Nghịch lý ngành trứng gia cầm
Ở thời điểm hiện tại, sản lượng trứng gia cầm của thị trường nội địa chạm mốc hàng chục tỷ quả. Nhưng ngành trứng lại đang rơi vào thực tế dư thừa lượng trong nước, khó phát triển thị trường xuất khẩu.

Đầu ra của trứng gia cầm vẫn bấp bênh vì chủ yếu tiêu thụ trong nước. Ảnh: Hạ Lan.
Nguồn cung vượt cầu
Số liệu khảo sát mới nhất của Hội Chăn nuôi Việt Nam cho thấy, tiêu thụ trứng gia cầm ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Trong nửa đầu năm 2026, sản lượng vượt 10,8 tỷ quả, tiếp tục tăng khoảng 4,8 - 5%.
Trứng gia cầm là một trong những trụ cột an ninh lương thực toàn cầu. Trên thế giới, ngành trứng duy trì tốc độ tăng trưởng 2,3%/năm, vượt qua cả thịt gà, thịt bò, thịt heo và sữa. Nhưng trong nước, trong khi sản lượng bùng nổ và thị trường tiêu dùng nội địa tiêu thụ ngày càng nhiều, thì người chăn nuôi vẫn chưa tìm được bài toán đầu ra. Hiện thị trường trong nước, giá trứng gia cầm tiếp tục chịu áp lực giảm tại nhiều địa phương. Trong đó, giá trứng nâu giảm về mức 1.600 - 1.700 đồng/quả, tùy theo khu vực tiêu thụ. Trứng trắng dao động từ 2.100 - 2.300 đồng/quả.
Với mức giá trứng như vậy, người chăn nuôi và các trang trại, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ đang phải đối mặt với không ít khó khăn, bởi chi phí đầu vào như thức ăn chăn nuôi, con giống và vận hành vẫn ở mức cao. Không những thế, ngành gia cầm nuôi lấy trứng có đặc thù riêng, ví dụ khi đàn gà đã được đưa vào khai thác thì người nuôi rất khó lập tức cắt giảm sản lượng, ngay cả khi thị trường xuất hiện dấu hiệu dư thừa. Trong khi đó, sức mua không tăng đủ nhanh để hấp thụ toàn bộ lượng trứng được sản xuất thêm. Nguồn cung vì thế liên tục tạo áp lực lên thị trường, đặc biệt tại những thời điểm nhu cầu tiêu dùng giảm.
Hướng tới thị trường trứng sạch
Theo TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến thị trường trứng gia cầm nội địa liên tục rơi vào các đợt khủng hoảng thừa cục bộ, đẩy giá bán xuống mức thấp là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tiêu thụ nội địa và thương mại quốc tế. Vẫn theo TS Sơn, năm 2025, trong khi các sản phẩm chăn nuôi khác thu được hàng trăm triệu USD từ xuất khẩu, thì kim ngạch xuất khẩu trứng lại giảm tới 38% so với năm 2024, chỉ đạt 1,4 triệu USD. Con số 1,4 triệu USD xuất khẩu là quá nhỏ so với quy mô sản lượng 21,4 tỷ quả trứng được sản xuất mỗi năm. Điều này đồng nghĩa với việc gần như 99% sản lượng trứng sản xuất ra phải tiêu thụ trên thị trường nội địa.
Về nghịch lý này, bà Nguyễn Thị Bích Phượng, Giám đốc Kinh doanh Tafa Group cho rằng, ngành trứng vốn mang đặc thù thương mại rất khắt khe. Mặc dù sản lượng thế giới đạt hàng trăm tỷ quả, nhưng chỉ khoảng 2% tổng sản lượng trứng được giao dịch quốc tế do rào cản hạn sử dụng ngắn và yêu cầu kiểm dịch cực kỳ nghiêm ngặt. Tại Việt Nam, rào cản này càng khó vượt qua do cấu trúc ngành chăn nuôi còn nhiều bất cập. Có tới 70% quy mô sản xuất trứng gia cầm hiện nay vẫn thuộc về các hộ gia đình nhỏ lẻ. Việc chăn nuôi phân tán, thiếu liên kết chuỗi khiến công tác kiểm soát an toàn sinh học gặp rất nhiều rủi ro, đặc biệt là mối đe dọa thường trực từ các đợt dịch cúm gia cầm độc lực cao.
Tại các đô thị lớn, hơn 50% người tiêu dùng (thậm chí lên tới trên 95% như tại thị trường Indonesia) đã chuyển sang lựa chọn các loại trứng đóng hộp có thương hiệu, truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Việc chăn nuôi thông minh ứng dụng AI, tự động hóa và minh bạch hóa dữ liệu sản xuất không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành tiêu chuẩn cạnh tranh bắt buộc. Theo bà Phượng, các hiệp định thương mại tự do như CPTPP hay EVFTA đang mở ra cơ hội rất lớn cho nông sản Việt, và nhu cầu nhập khẩu trứng từ các thị trường khu vực như Hồng Kông cũng như các tỉnh phía Nam Trung Quốc là rất hiện hữu. Tuy nhiên, lợi thế sẽ thuộc về các DN, đơn vị giải được bài toán đồng bộ về chất lượng bảo quản kiểm dịch.
TS Nguyễn Thanh Sơn khuyến nghị, trong bối cảnh nguồn cung dư thừa, giá bán thấp trong khi chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, ngành gia cầm không thể tiếp tục phát triển theo chiều rộng. Thay vào đó, cần chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất trên từng đơn vị vật nuôi. Kế đó, ngành và loạt DN cần chuyển từ tư duy tăng đàn, tăng sản lượng sang tăng năng suất, giảm giá thành và nâng giá trị sản phẩm. Cùng với đó là tổ chức lại chuỗi liên kết, giảm khâu trung gian, đẩy mạnh chế biến sâu, chuyên nghiệp hóa người chăn nuôi và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nghich-ly-nganh-trung-gia-cam.html
