Ngọn lửa âm thầm cháy mãi

Có những người khi đã đi xa, thời gian dường như không làm họ lùi vào dĩ vãng mà càng khiến hình bóng cùng những đóng góp của họ ngày một hiện rõ hơn trong ký ức người ở lại.

Sinh thời, Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung rất chăm đi thực tế sáng tác, lắng nghe nhân dân, trò chuyện với những người lao động.

Sinh thời, Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung rất chăm đi thực tế sáng tác, lắng nghe nhân dân, trò chuyện với những người lao động.

Mười năm kể từ ngày Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung từ biệt cõi tạm, tôi vẫn thường nhớ đến căn phòng nhỏ của ông trong cơ quan tạp chí Văn nghệ quân đội trên phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Một chiếc giường đơn, một bàn làm việc và rất nhiều sách báo, những trang bản thảo đánh dấu bằng nét bút xanh đỏ và một chiếc đèn đọc sách đã cũ. Mọi thứ đều ngăn nắp, gọn ghẽ và kỷ luật.

Ông từng đi qua chiến tranh, từng kinh qua nhiều cương vị, mang trên mình quân hàm Thiếu tướng, sở hữu một gia tài văn chương dày dặn và được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thế nhưng, ở tuổi xế chiều, ông vẫn giữ một nếp sống thanh đạm, như một người chiến sĩ chưa bao giờ cho phép tự nghỉ ngơi.

Những năm tháng sinh viên, tôi được theo ông, được nghe ông trò chuyện, được chứng kiến những suy tư thường nhật của ông đã trở thành một thứ vốn quý mà càng đi qua thời gian, càng nhận ra giá trị. Điều đầu tiên mà người ta cảm nhận được ở Nguyễn Chí Trung không phải là một nhà văn hay một vị tướng, mà là một người cộng sản sống trọn vẹn với lý tưởng của mình.

Ở tuổi ngoài 80, khi nhiều người đã chọn cách sống an nhàn, ông vẫn giữ thói quen đọc sách báo mỗi ngày, vẫn theo dõi từng chuyển động của thời cuộc, vẫn trăn trở với những câu chuyện về kinh tế, giáo dục, đạo đức xã hội và tương lai của đất nước. Có những hôm, câu chuyện bắt đầu từ một bài báo nhỏ, nhưng rồi kéo dài hàng giờ đồng hồ, bởi với ông, mọi vấn đề của đất nước đều là chuyện không thể đứng ngoài, nhất là các trí thức.

Ông thường nhắc đến Nguyễn Trãi, nhắc đến tư tưởng “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, “lo trước cái lo của thiên hạ”. Ông bảo, người cộng sản phải luôn mang trong mình nỗi lo ấy. Lo không phải để thở than rền rĩ, mà để hành động. Càng về cuối đời, nỗi lo ấy dường như càng trở nên day dứt hơn. Ông từng viết, “chẳng kẻ thù nào đánh bại được người cộng sản, nếu người cộng sản không tự đánh mất mình”. Đó chỉ là một lời tâm sự, nhưng chứa đựng cả một đời chiêm nghiệm, trải nghiệm, suy nghiệm của một người đã dành gần như trọn cuộc đời cho Đảng, cho quân đội và cho nhân dân.

Nguyễn Chí Trung thuộc về một thế hệ đặc biệt. Thế hệ của những người bước vào cách mạng khi đất nước còn chìm trong khói lửa, trưởng thành trong chiến tranh và mang theo mình một niềm tin gần như tuyệt đối vào con đường, vào lý tưởng đã chọn.

Ông tên thật là Thái Nguyên Chung, sinh năm 1930 tại Hòa Vang, Quảng Nam. Tham gia cách mạng từ rất sớm, nhập ngũ năm 1946, ông gắn bó nhiều năm với chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên. Chính mảnh đất đỏ bazan ấy đã trở thành quê hương thứ hai, là nơi hun đúc nên cả cuộc đời binh nghiệp lẫn đời văn của ông.

Người ta thường nói không ai hiểu Tây Nguyên bằng những người đã sống cùng Tây Nguyên. Nguyễn Chí Trung là một trong số đó. Ông không viết về Tây Nguyên như một vùng đất để khám phá, mà như một phần máu thịt của chính mình. Trong văn ông có hơi thở của đại ngàn, có tiếng cồng chiêng, có nỗi đau chiến tranh, có những người dân Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai bình dị mà kiên cường.

Tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út chính là một trong những đỉnh cao của hành trình ấy. Nhưng nếu chỉ nhìn nó như một tác phẩm văn học, có lẽ vẫn chưa đủ. Bởi, điều đặc biệt ở Nguyễn Chí Trung là ông không bao giờ coi văn chương là một cuộc chơi nghệ thuật thuần túy. Với ông, viết là một trách nhiệm. Ông viết để lưu giữ ký ức. Ông viết để những con người vô danh không bị thời gian xóa nhòa. Ông viết để những hy sinh âm thầm không rơi vào quên lãng. Đằm mình trong nhân dân mà viết.

Có lần ông nói với chúng tôi rằng, nhà văn phải biết mắc nợ cuộc đời. Nếu không có món nợ ấy, ngòi bút sẽ trở nên vô nghĩa. Có lẽ vì thế mà trong văn ông, hầu như không có nhân vật nào hoàn toàn hư cấu. Mỗi nhân vật đều mang bóng dáng của những con người thật, những số phận thật mà ông đã gặp trên hành trình, cả chiến tranh và giữa thời bình. Ông không đứng ngoài để kể. Ông đứng trong để sống. Đó là lý do khiến văn ông luôn đau đáu và ám ảnh.

Người đời thường gọi ông là “Ông tướng nhà văn hay khóc”. Nghe qua, ai cũng thấy lạ. Một người từng đi qua chiến tranh, từng đối mặt với cái chết, từng chứng kiến biết bao mất mát lại có thể dễ dàng rơi nước mắt. Nhưng càng gần ông, tôi càng hiểu rằng đó không phải là sự yếu mềm. Đó là một dạng sức mạnh của lòng trắc ẩn.

Ông khóc khi đọc những bài viết về nhân dân, những người cần lao. Ông khóc khi nhắc về những đồng đội đã nằm lại chiến trường. Ông khóc khi nói về những biểu hiện xuống cấp đạo đức trong xã hội. Ông đau bởi ông sợ một ngày nào đó, thế hệ trẻ sẽ quên mất những gì cha ông đã đánh đổi bằng cả máu xương.

Chính từ nỗi đau ấy, “nhớ là để cho khỏi quên”, nhớ và ghi ơn những hy sinh mất mát luôn thường trực trong ông: chiến trường ai khóc chia phôi/ khải hoàn ai nhớ những người hôm qua. Nhớ không phải để hoài niệm. Nhớ là để giữ gìn. Nhớ là để biết mình từ đâu mà có. Nhớ là để không lặp lại những sai lầm. Nhớ là để biết trân trọng những gì đang có hôm nay.

Có nhiều cái Tết, nhà văn Nguyễn Chí Trung chọn đến bệnh viện với các em nhỏ bị ung thư.

Có nhiều cái Tết, nhà văn Nguyễn Chí Trung chọn đến bệnh viện với các em nhỏ bị ung thư.

Trong những năm tháng ở bên ông, tôi còn học được một điều khác, đó là sự nhất quán giữa lời nói và hành động. Ông không lập gia đình riêng, nhưng chưa bao giờ cô độc. Gia đình của ông là nhân dân. Ông dành sự quan tâm đặc biệt cho trẻ em, cho người nghèo và những số phận yếu thế. Mỗi dịp Tết đến, ông đều mong được đến với họ, không phải để ban phát lòng tốt mà để được ở cùng, sẻ chia với họ.

Có một việc làm khiến tôi nhớ mãi. Ông từng bỏ tiền túi để dựng tượng cho một người anh hùng mù từng gùi đạn trên chiến trường Tây Nguyên. Hành động ấy khiến tôi hiểu rằng, với ông, nhà văn không chỉ chịu trách nhiệm với trang giấy mà còn phải chịu trách nhiệm với chính những nhân vật của mình.

Đi theo ông, chúng tôi được dạy những điều tưởng như rất giản dị. Phải học cho tử tế. Phải sống cho hẳn hoi. Phải yêu lao động và yêu người lao động, giữ lấy lương tâm trong mọi hoàn cảnh. Ông hiếm khi nói về thành công. Ông chỉ nói về sự đúng đắn. Làm gì cũng phải đúng với lẽ phải, đúng với lương tâm và đúng với trách nhiệm của một công dân.

Mười năm đã trôi qua. Đất nước đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Thế hệ những người từng đi qua chiến tranh ngày một dần thưa vắng. Nhưng có lẽ, chính trong bối cảnh ấy, những giá trị mà Nguyễn Chí Trung để lại lại càng trở nên quý giá. Bởi ông không chỉ để lại những cuốn sách mà để lại một nhân cách. Không chỉ để lại một di sản văn chương, ông để lại một bài học về cách sống.

Đôi khi, tôi vẫn hình dung ở một nơi nào đó, phía cuối chân trời, ông đang gặp lại những người dân Tây Nguyên năm xưa, đang ngồi bên bếp lửa cùng những đồng đội đã khuất, đang tiếp tục ghi chép những câu chuyện còn dang dở của đời người.

Và có lẽ, ông vẫn đang nhắc nhở những người ở lại một điều giản dị mà sâu sắc: “Nhớ là thương mà không thấy mặt. Nhớ là để cho khỏi quên”. Chúng ta nhớ ông không phải để chìm trong hoài niệm. Mà để tự nhắc mình rằng, đất nước núi sông này từng có những người đã sống, chiến đấu vì lý tưởng trọn vẹn như thế, đã viết tận hiến như thế và đã yêu thương con người, yêu thương Tổ quốc đến tận cùng như thế. Chừng nào ký ức ấy còn được gìn giữ, chừng đó nhà văn Nguyễn Chí Trung và các đồng chí của ông vẫn còn ở lại, như một ngọn lửa âm thầm soi sáng cho lớp người sau.

Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Chí Trung sinh ngày 15/2/1930, mất ngày 11/6/2016. Ông tham gia cách mạng từ năm 1945, nhập ngũ năm 1946, hoạt động nhiều năm tại chiến trường Khu V và Trung Trung Bộ. Trưởng thành từ người lính, nhà báo, cán bộ tuyên huấn đến nhà văn quân đội, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, từng giữ nhiều trọng trách như phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Campuchia, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Trợ lý Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (khóa VIII). Các tác phẩm tiêu biểu gồm: Bức thư làng Mực (1964), Hương cau (1975), Khi dòng sông ra đến cửa (1981), Tiếng khóc của nàng Út (2007), Đối thoại trong đêm (2011), Kinh tế và Chính trị (2011),... Ông được trao nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Giải thưởng Văn học ASEAN 2011 và Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012.

Khúc Hồng Thiện

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/ngon-lua-am-tham-chay-mai-post969879.html