Ngựa trong văn hóa Saka

Người Saka (hay Scyth) là những người du mục nói tiếng Iran cổ gốc ở Nam Siberia. Từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên (TCN), họ di chuyển, chinh chiến khắp vùng thảo nguyên Âu - Á (hiện từ Biển Đen tới Mông Cổ).

Hình một quý tộc Saka bằng vàng được tạo ra ở vùng Biển Đen có niên đại 400-350 TCN

Hình một quý tộc Saka bằng vàng được tạo ra ở vùng Biển Đen có niên đại 400-350 TCN

Ngựa trong văn hóa Saka

Ngựa chính là con vật mang sức sống, sức mạnh của người Saka, tạo ra bản lĩnh, bản sắc của văn hóa Saka.

Trong lịch sử, người Saka nổi tiếng nhất với những đội kỵ binh mạnh mẽ, thiện chiến; với nghệ thuật mang “Phong cách động vật” đặc trưng trên đồ trang sức vàng và vũ khí đồng, sắt; với những mộ gò lớn chứa đầy người, ngựa, và đồ tùy táng. Gắn với các cuộc chiến chinh và thiên di, văn hóa Saka có tác động qua lại khá đậm nét với nhiều văn hóa tộc người ở Hy Lạp, Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam.

Vùng thảo nguyên Âu - Á gắn bó với người Saka rất có thể là nơi loài ngựa hoang đã được thuần hóa lần đầu tiên cách đây hơn 5.000 năm, trước hết để lấy thịt ăn vào mùa đông. Sau này, người Saka đã phát triển nghề nuôi ngựa và tục cưỡi ngựa lên những tầm cao mới.

Họ đã tạo ra các giống ngựa với những đặc tính đa dạng: loài có ngựa đực chân khỏe, sức bền, chạy nhanh; loài có ngựa cái ít ốm đau, nhiều sữa; các loài có màu lông nâu đỏ, nâu hạt dẻ, đen, kem, đốm... Họ cũng tạo ra các dạng yên, dây cương, hàm thiếc, bàn đạp tiện lợi, gọn nhẹ nhưng bền chắc. Họ hiểu biết sâu sắc tâm lý và tính cách từng loài ngựa, có thể giao tiếp và chỉ huy ngựa một cách tinh tế và hiệu quả. Một câu thành ngữ nói: “Trẻ em Saka tập cưỡi ngựa trước khi tập đi”. Nhiều tên người Saka có từ ngựa với hàm ý người đó sẽ có sức mạnh như ngựa hay sẽ có những con ngựa khỏe, đẹp, tuyệt vời...

Người Saka đã tạo ra một dạng cung mới với thân cung gồm nhiều lớp gỗ và gân động vật có tầm bắn xa và độ xuyên phá mạnh hơn các dạng cung khác. Họ cũng tạo các dạng bao tên và hộp cung đặc biệt cho phép họ vừa cưỡi ngựa (dù có hay không yên) vừa bắn cung với tốc độ nhanh nhất… Kỵ binh Saka với tài cưỡi ngựa, bắn cung, phóng lao siêu việt đã tạo ra một trong những đội kỵ binh thiện chiến, dũng mãnh nhất thời cổ đại, nổi tiếng đánh nhanh rút nhanh, tạo ra các trận mưa tên ào ào rồi biến mất trong tiếng vó ngựa dồn dập… Đặc biệt, đội quân kỵ Saka gồm cả nam và nữ. Rất có thể, các nữ kỵ binh Saka chính là nguyên mẫu hay nguồn cảm hứng để tạo ra các nữ chiến binh Amazon trong truyền thuyết và sử thi Hy Lạp, những phụ nữ làm chủ một vương quốc mẫu hệ mang áo giáp và trang sức bạc lấp lánh, “chiến đấu như đàn ông” và “săn đàn ông”…

Thờ ngựa là một phong tục phổ biến trong nhiều nền văn hóa du mục, nhưng đặc biệt sâu sắc và phong phú ở văn hóa Saka.

Thần mặt trời của người Saka ban đầu là nữ thần Mẹ - Thần Lửa tối cao, sau là một nam thần cưỡi xe ngựa kéo như thần mặt trời Apolo Hy Lạp. Nhưng ở mọi thời, con vật hiến tế thích hợp nhất cho thần luôn là ngựa. Người Saka cũng coi Ares - Thần Chiến tranh là thần của ngựa và vương quyền. Hàng năm, họ tiến hành lễ cúng thần bằng ngựa.

Trong các nghi lễ đạo shaman (đạo đồng bóng), các pháp sư Saka thường là đàn ông mang tính ái nam ái nữ, phải uống sữa ngựa để tăng tính nữ. Mặt khác, họ coi ngựa là con vật thiêng có thể đưa họ hay hồn người chết tới ba cõi thiêng (Trời, Đất và Âm phủ) trên Cây Vũ Trụ… Các chiến binh Saka thường xăm mình hình ngựa để thể hiện mối liên hệ thân thiết của họ với ngựa, để cầu mong sự bảo vệ và may mắn và để làm đẹp. Với ý nghĩa tương tự, ngựa cũng là một mô típ được ưa chuộng để trang trí vũ khí, áo giáp, thắt lưng.

Tục hiến tế ngựa là một phần không thể thiếu của tang lễ Saka, trong đó ngựa được coi là con vật đưa dẫn hồn người chết về với tổ tiên và tiếp tục gắn bó với người chết ở bên kia thế giới.

Người Saka ở vùng Biển Đen chôn theo người chết từ 1-16 con ngựa, số lượng phản ánh địa vị, quyền thế của người chết. Đó thường là ngựa đực được 15-20 tuổi và là ngựa của người chết cưỡi khi còn sống. Chúng bị giết và chôn theo người chết để không ai khác còn có thể cưỡi chúng. Mộ một vị vua Saka thế kỷ 7 chôn tới 160 con ngựa, có lẽ là đàn ngựa của cả vua và những người gần gũi với vua. Người Saka hiến tế ngựa gần như theo cùng một cách: họ dùng rìu bổ mạnh một nhát đúng vào giữa trán, theo con mắt người thời nay là một cách mang tính “nhân văn”.

Ngựa được chôn theo vua chúa và quý tộc thường có trang phục cầu kỳ. Một số con trên đầu có mũ hình đầu chim, sừng hươu làm bằng da hay gỗ, bờm nhân tạo làm bằng lông đuôi ngựa nhuộm màu; mặt ngựa, yên phủ chăn bằng nỉ hay da vẽ cảnh giao chiến, thân có các chuỗi dây chuyền vàng. Với trang phục đó, ngựa hóa thành một con vật thần thoại tổng hòa hình hài các con vật tượng trưng cho các tầng thế giới trong tín ngưỡng Saka.

Một con ngựa mang trang phục tương tự các con ngựa được chôn cùng vua chúa Saka xưa

Một con ngựa mang trang phục tương tự các con ngựa được chôn cùng vua chúa Saka xưa

Mộ của vua chúa Saka là dạng mộ gò, dạng mộ được đắp cao lên bằng đất hay đá cao như một cái gò, có lẽ ra đời bởi gắn với tục chôn theo người chết nhiều người, ngựa và đồ đạc quý. Một ngôi mộ ở Crimea có niên đại thế kỷ 4 TCN rộng 250m, cao gần 20m. Trong mộ gò, quan tài người chết thường được đặt trong phòng mộ làm bằng gỗ có nền lót nỉ màu tối, mái lợp vỏ cây, xung quanh là các đồ tùy táng. Quanh phòng mộ là các phòng chôn các con ngựa đầu hướng về phía Đông, hướng mặt trời. Tại vùng Bắc Bộ Việt Nam, nhiều ngôi mộ gạch thời Hán cũng là mộ gò, một ngôi mộ ở Nghi Vệ Bắc Ninh rộng 100m, cao 10m. Một số mộ của các vua Trần ở Thái Bình cũng là mộ gò…

Người Saka và người Đông Sơn

Trong Hội nghị Việt Nam học lần thứ 3 ở Hà Nội năm 2008, học giả Nga Dega Deopik đã có một báo cáo với tên gọi rất lý thú: “Người Scyth và người Đông Sơn, cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa tổ tiên người Nga và tổ tiên người Việt”. Ông cho biết người Scyth (tức Saka) là tổ tiên của người Đông Slave, bao gồm người Nga và Ukraine. Vào khoảng thế kỷ 6-7 TCN, từ vùng Đông Bắc Kazakhstan, họ đã thiên di đến Vân Nam, gặp gỡ và hòa nhập vào những người nói tiếng Nam Á trong khu vực văn hóa Đông Sơn và trở thành một trong những tộc người thống trị nước Điền. Họ đã đem tới cho văn hóa Điền một loạt các yếu tố văn hóa du mục như tục cưỡi ngựa, tục thờ cúng bò quanh cột lễ, trang phục, nghệ thuật nhảy múa và nghệ thuật tạo hình động vật vùng thảo nguyên…

Sự có mặt của người Saka ở nước Điền được khẳng định qua tượng các kỵ binh và quý tộc với trang phục và vũ khí đặc trưng Saka trên đồ đồng Điền. Sự hòa nhập giữa văn hóa Saka và văn hóa Điền đã tạo ra nhiều sản phẩm độc lạ của văn hóa Điền, đặc biệt là các thạp hình trống đồng Đông Sơn có nắp và thân phủ kín tượng người và động vật; các thanh kiếm ngắn và dao găm có chuôi hình người hay động vật... Sau khi nước Điền bị nhà Hán thôn tính vào 109 TCN, nhất là sau khi các cuộc khởi nghĩa của quý tộc Điền bị đàn áp thẳng tay trong các năm cuối thế kỷ 1 TCN, nhiều quý tộc Điền bao gồm người Saka đã di tản về phía Nam, phần lớn tới tị nạn ở vùng núi Thanh - Nghệ, nơi nhà Hán cai trị lỏng lẻo. Tại đó, họ đã hội nhập với các nhóm quý tộc Âu Lạc đến từ trước… Các bằng chứng khảo cổ về di dân Điền ở Việt Nam là các kho chôn giấu đồ của quý tộc Điền di tản ở dọc sông Hồng, Lào Cai; các ngôi mộ chứa di vật mang đặc trưng Điền ở Làng Vạc, Nghệ An.

Hai bằng chứng nổi bật về sự có mặt của người Saka - Điền ở vùng Thanh - Nghệ là cây đèn hình người quỳ Lạch Trường (tìm được ở Lạch Trường, Thanh Hóa) thể hiện một pháp sư kết hợp một loạt các yếu tố Saka - Lạc Việt và hình một chiến binh mang trang phục Saka cùng ngựa trên trống Seangang, một trống Đông Sơn cỡ cực lớn (đường kính 116 cm) được đúc ở Thanh Nghệ và được một nhóm quý tộc Đông Sơn di tản đưa tới đảo Sangeang, Indonesia vào thế kỷ 1.

Tạ Đức

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/chuyen-de/ngua-trong-van-hoa-saka-i795948/