Người dưới 35 tuổi vay mua nhà ở xã hội được hỗ trợ lãi suất bao nhiêu?
Người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội từ 1/7/2026 sẽ được vay với lãi suất ưu đãi 6,5%/năm trong 5 năm đầu, trước khi áp dụng mức 7,5%/năm cho 10 năm tiếp theo…

Người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội từ 1/7/2026 sẽ được vay với lãi suất ưu đãi 6,5%/năm trong 5 năm đầu
Theo Công văn số 5340/NHNN-CSTT ngày 19/6/2026 của Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ các khoản vay của người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội được xác định theo từng giai đoạn của thời hạn vay. Công văn được ban hành trên cơ sở các hướng dẫn trước đó về chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo và xây dựng lại chung cư cũ.
Cụ thể, trong 5 năm đầu vay vốn, tính từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất cho vay thấp hơn 2%/năm so với lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam bình quân của 4 ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank. Mức lãi suất cho vay áp dụng trong giai đoạn này là 6,5%/năm.
Sau 5 năm đầu, trong 10 năm vay vốn tiếp theo, lãi suất được áp dụng ở mức thấp hơn 1%/năm so với lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam bình quân của 4 ngân hàng nói trên. Mức lãi suất cụ thể được Ngân hàng Nhà nước thông báo cho giai đoạn từ ngày 1/7 đến ngày 31/12/2026 là 7,5%/năm.
Như vậy, nếu khoản vay thuộc chương trình và người vay đáp ứng đầy đủ các điều kiện, mức lãi suất ưu đãi được áp dụng trong tổng thời gian 15 năm, gồm 5 năm đầu ở mức 6,5%/năm và 10 năm tiếp theo ở mức 7,5%/năm.
Điểm cần lưu ý là mức lãi suất 6,5%/năm và 7,5%/năm được Ngân hàng Nhà nước công bố cho giai đoạn từ ngày 1/7/2026 - 31/12/2026. Đây không phải là mức lãi suất áp dụng cố định cho mọi thời kỳ trong toàn bộ thời hạn khoản vay. Việc xác định mức lãi suất cho từng giai đoạn tiếp theo sẽ phụ thuộc vào quy định và thông báo của cơ quan có thẩm quyền.
Chính sách này hướng tới nhóm người trẻ dưới 35 tuổi có nhu cầu mua nhà ở xã hội nhưng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thương mại.
Tuy nhiên, việc thuộc nhóm tuổi được hưởng chương trình vay ưu đãi không đồng nghĩa với việc người vay đương nhiên đủ điều kiện mua nhà ở xã hội. Người có nhu cầu vẫn phải đáp ứng các điều kiện về đối tượng, nhà ở và thu nhập theo quy định hiện hành. Bộ Xây dựng cũng xác nhận người mua, thuê mua nhà ở xã hội phải thuộc đối tượng được hưởng chính sách và đáp ứng đủ các điều kiện về nhà ở, thu nhập theo quy định.
Về điều kiện thu nhập, quy định hiện hành đã có thay đổi đáng chú ý từ ngày 7/4/2026 theo Nghị định số 136/2026/NĐ-CP. Đối với các nhóm đối tượng gồm người thu nhập thấp tại khu vực đô thị, công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân phải có thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng. Mức thu nhập này được xác định theo bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị hoặc doanh nghiệp nơi người lao động làm việc xác nhận.
Trường hợp người đứng đơn chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân nhưng đang nuôi con dưới tuổi thành niên, mức thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận không được vượt quá 35 triệu đồng.
Trong khi đó, nếu người đứng đơn đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hằng tháng thực nhận của người đứng đơn và vợ hoặc chồng không được quá 50 triệu đồng. Thời gian xác định điều kiện về thu nhập là 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.
Quy định cũng cho phép UBND cấp tỉnh, căn cứ điều kiện và mức thu nhập của từng khu vực, chính sách ưu đãi về nhà ở đối với cán bộ, công chức, viên chức và số lượng người phụ thuộc, quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập trong phạm vi pháp luật cho phép.
Đồng thời, địa phương có thể quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với trường hợp có từ 3 người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình.
Bên cạnh điều kiện về thu nhập, người mua nhà ở xã hội còn phải đáp ứng điều kiện về nhà ở. Theo quy định hiện hành, trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định khi người đứng đơn và vợ hoặc chồng của người đó, nếu có, không có tên hoặc không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội.
Trường hợp đã có nhà ở thuộc sở hữu của mình vẫn có thể thuộc diện được mua nhà ở xã hội nếu diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15 m² sàn/người. Diện tích bình quân được tính trên cơ sở người đứng đơn, vợ hoặc chồng, cha mẹ nếu có và các con nếu có đăng ký thường trú tại căn nhà đó. Theo quy định, đối với trường hợp này, UBND cấp xã thực hiện xác nhận trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận được đơn đề nghị xác nhận diện tích nhà ở bình quân đầu người.
Đối với trường hợp chưa có nhà ở, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội thực hiện xác nhận trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được giấy đề nghị xác nhận về điều kiện nhà ở. Quy định này nhằm làm rõ tình trạng nhà ở của người đăng ký trước khi hồ sơ mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội được xem xét.
Ngoài các điều kiện về thu nhập và nhà ở, chính sách nhà ở xã hội còn được thực hiện theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đủ điều kiện theo quy định.
Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để người dân có chỗ ở, đồng thời có sự kết hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và chính đối tượng được hỗ trợ. Việc thực hiện chính sách cũng phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cộng đồng dân cư và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trong trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều diện được hưởng chính sách hỗ trợ khác nhau, pháp luật quy định được hưởng một chính sách hỗ trợ ở mức cao nhất.
Nếu các đối tượng có cùng tiêu chuẩn và điều kiện thì thứ tự ưu tiên gồm người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ, người khuyết tật, người được bố trí tái định cư theo hình thức mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, người có từ 2 con đẻ trở lên và nữ giới. Nếu một hộ gia đình có nhiều người cùng thuộc diện được hưởng các chính sách hỗ trợ thì chỉ áp dụng một chính sách hỗ trợ cho cả hộ gia đình.












