Người hoạt động ở thôn, tổ dân phố được hưởng chính sách gì sau sắp xếp?
Việc sắp xếp thôn, tổ dân phố tại Hà Nội không đơn thuần là “gộp địa bàn, giảm đầu mối”. Phía sau những thay đổi về tên gọi, quy mô dân cư, nhân sự là yêu cầu hoạt động thực chất hơn và trở thành cầu nối gần dân nhất giữa chính quyền cấp xã với người dân.
Từ ngày 1/7/2026, Nghị quyết số 21/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hà Nội có hiệu lực, quy định khá toàn diện về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố cũng như chức danh, số lượng và chế độ đối với người hoạt động không chuyên trách. Nghị quyết gồm 5 chương, 26 điều, được ban hành trong bối cảnh Hà Nội tiếp tục kiện toàn mô hình tổ chức chính quyền và bộ máy ở cơ sở.
Không phải một “cấp chính quyền” thu nhỏ
Điểm cần hiểu đầu tiên là thôn, tổ dân phố không phải một cấp hành chính độc lập. Theo Nghị quyết 21, đây là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư có chung địa bàn cư trú, được tổ chức ở xã, phường; là nơi cộng đồng thực hiện dân chủ trực tiếp và là cầu nối giữa người dân với chính quyền địa phương cấp xã. Cách thiết kế này cho thấy sau sắp xếp, vai trò của thôn, tổ dân phố không giảm đi, nhưng trọng tâm được đặt rõ hơn vào tự quản cộng đồng, tập hợp dân cư và hỗ trợ chính quyền cơ sở, thay vì hành chính hóa hoạt động của khu dân cư.

Cán bộ tổ dân phố phường Giảng Võ (Hà Nội) trong một buổi họp triển khai công việc trên địa bàn.
Nguyên tắc hoạt động cũng được xác định khá rõ: tinh gọn, hợp lý, hiệu quả; phát huy quyền làm chủ trực tiếp của người dân; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; tuân thủ pháp luật, hương ước, quy ước và phù hợp điều kiện thực tế từng địa bàn. Chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cộng đồng cũng được đặt thành một yêu cầu mới.
Điều này diễn ra đồng thời với quá trình Hà Nội kiện toàn tổ chức cấp xã. Theo Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND, bộ máy chuyên môn và tổ chức hành chính ở cấp xã cũng được bố trí theo khung mới, với yêu cầu tinh gọn, thông suốt, không làm gián đoạn hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ người dân.
Sau sắp xếp, cơ cấu nhân sự ở một thôn, tổ dân phố được thiết kế khá gọn. Mỗi thôn có Trưởng thôn và Phó Trưởng thôn; mỗi tổ dân phố có Tổ trưởng và Phó Tổ trưởng tổ dân phố. Ngoài ra còn có Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận và các lực lượng tham gia hoạt động cộng đồng theo quy định. Tổng số người hoạt động không chuyên trách ở một thôn, tổ dân phố về nguyên tắc không quá 5 người.
Đáng chú ý, Nghị quyết quy định nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố là 5 năm. Trường hợp sau khi sắp xếp, tổ chức lại mà chưa thể ngay lập tức tổ chức bầu, UBND cấp xã có thể cử người làm Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng lâm thời nhưng thời gian tối đa không quá 12 tháng. Trong thời gian đó phải chuẩn bị nhân sự và tổ chức bầu khi đủ điều kiện.
Cách làm này nhằm giải quyết một vấn đề rất thực tế: sáp nhập địa bàn không thể đồng nghĩa với khoảng trống điều hành ở khu dân cư. Những công việc hằng ngày từ vệ sinh môi trường, an ninh trật tự đến phản ánh kiến nghị của người dân vẫn phải có người tổ chức và kết nối.
Người dân sẽ trực tiếp quyết định nhiều việc
Một thay đổi đáng chú ý khác là vai trò tự quản của cộng đồng dân cư được quy định cụ thể hơn. Người dân trong thôn, tổ dân phố có thể bàn và quyết định việc đóng góp xây dựng, sửa chữa công trình phục vụ cộng đồng; quyết định việc thu, chi và quản lý các khoản đóng góp tự nguyện; xây dựng, sửa đổi hương ước, quy ước; tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, tương trợ xã hội và xây dựng đời sống văn hóa.

Cán bộ tổ dân phố của phường Giảng Võ phát thẻ cử tri cho người dân trước ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp.
Cộng đồng dân cư cũng trực tiếp tham gia bầu, cho thôi làm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố; tham gia ý kiến đối với những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống dân cư khi chính quyền cấp xã lấy ý kiến. Nội dung thu, chi và quản lý tài sản, kinh phí của cộng đồng phải bảo đảm công khai, minh bạch.
Như vậy, nếu thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết, thôn và tổ dân phố sau sắp xếp không phải nơi “truyền đạt thông báo” một chiều từ chính quyền xuống dân. Đây phải là không gian để người dân thảo luận, quyết định những công việc thuộc cộng đồng mình và phản ánh nguyện vọng ngược trở lại chính quyền.
Nghị quyết 21 quy định tiêu chí thông thường: thôn từ 500 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố từ 700 hộ gia đình trở lên. Tuy nhiên, Hà Nội không áp dụng các con số này một cách cơ học. Những địa bàn miền núi, vùng có điều kiện giao thông khó khăn, khu vực có đặc thù lịch sử, văn hóa, dân cư hoặc địa bàn mới hình thành có thể được xem xét theo điều kiện cụ thể. Việc thành lập, sáp nhập, tổ chức lại phải tính đến địa hình, giao thông, lịch sử cộng đồng, phong tục, khả năng tổ chức sinh hoạt và hiệu quả quản lý.
Thẩm quyền quyết định thành lập, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể, đặt tên hoặc đổi tên thôn, tổ dân phố thuộc HĐND cấp xã; UBND cấp xã chịu trách nhiệm xây dựng hồ sơ, lấy ý kiến nhân dân và trình HĐND xem xét.
Đây là điểm quan trọng, bởi sắp xếp địa bàn dân cư chỉ thực sự có ý nghĩa khi quy mô lớn hơn nhưng khoảng cách giữa chính quyền với người dân không xa hơn.
Sau cùng, hiệu quả của cuộc sắp xếp sẽ không chỉ được đo bằng số thôn, tổ dân phố giảm được bao nhiêu, hay giảm được bao nhiêu đầu mối. Điều người dân quan tâm thiết thực hơn là sau khi “về chung một tổ”, kiến nghị có được xử lý nhanh hơn, sinh hoạt cộng đồng có thuận lợi hơn và người đứng đầu khu dân cư có thực sự gần dân, hiểu dân hay không.

