Người lao động nghỉ việc trước ngày trả lương, doanh nghiệp khấu trừ 10% hay tính thuế lũy tiến?

Người lao động chấm dứt hợp đồng ngày 30/6, trong khi tiền lương tháng 6 được doanh nghiệp thanh toán vào ngày 10/7 thì khoản tiền này được xem là thu nhập của người đã chấm dứt hợp đồng để áp dụng mức khấu trừ 10% hay vẫn tính thuế theo biểu lũy tiến từng phần?

Hỏi:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân: quy đinh doanh nghiệp phải khấu trừ 10% khi thanh toán tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động. Nghị định cũng cho phép cá nhân làm cam kết để không phải khấu trừ 10% và phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình.

Tuy nhiên tại cuối khoản 2 cũng có nội dung: “Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.” Và tại khoản 1 Điều 48 bộ luật lao động 2019 quy định: “1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”

Theo quy định nêu trên trường hợp Công ty chúng tôi ký hợp đồng có thời hạn 1 năm với người lao động, trên hợp đồng quy định tiền lương sẽ được thanh toán trễ nhất vào ngày 10 tháng sau. Người lao động nghỉ việc vào ngày 30/06 vậy khi thanh toán lương tháng 06 (vào ngày 10/07) chúng tôi có cần phải khấu trừ 10% trước khi chi trả lương cho người lao động không ạ? Tỷ lệ khấu trừ 10% tính trên số thực chi trả hay tổng thu nhập của người lao động hoặc có được tính trừ các khoản miễn, giảm (tiền lương tăng ca, tiền bảo hiểm bắt buộc, …) không?

Nghị định cho phép người lao động làm cam kết 08 để tạm thời chưa phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân và phải chịu trách nhiệm trước cam kết của mình. Công ty chỉ có thể tuyên truyền nhắc nhở và không thể kiểm tra kiểm soát được tính xác thực của cam kết hoặc trường hợp tại thời điểm cam kết ước người lao động đáp ứng điều kiện nhưng sau này họ kinh doanh thêm hoặc làm thêm 2-3 công việc dẫn đến phát sinh thuế thu nhập cá nhân phải nộp. Trường hợp này Công ty được miễn trừ trách nhiệm và trách nhiệm liên quan thuộc về người lao động đúng không?

Trả lời:

Tại khoản 1, khoản 3 Điều 26 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định:

“1. Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động

... 3. Trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương,tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân”.

Tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định:

“2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.”

Căn cứ các quy định nêu trên:

Về phương pháp khấu trừ thuế đối với tiền lương chi trả sau khi chấm dứt hợp đồng lao động: Trường hợp người lao động là cá nhân cư trú, ngày 30/6/2026 đã chấm dứt hợp đồng lao động và Công ty chi trả tiền lương tháng 6/2026 vào ngày 10/7/2026 thì khoản chi trả này thuộc trường hợp trả tiền lương cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu mức chi trả đối với từng cá nhân, từng lần từ 05 triệu đồng trở lên, Công ty thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trước khi trả thu nhập. Nếu mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần, Công ty chỉ thực hiện khấu trừ 10% khi cá nhân có yêu cầu.

Về khoản thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10%: Công ty thực hiện khấu trừ 10% trên khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện chịu thuế trước khi trả cho cá nhân. Các khoản thu nhập được miễn thuế theo quy định, trong đó có tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ và tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép trong phạm vi điều kiện, thời gian và mức theo pháp luật lao động, không tính vào khoản thu nhập chịu khấu trừ; phần vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế. Các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác là căn cứ xác định thu nhập tính thuế áp dụng Biểu thuế lũy tiến từng phần hoặc khi quyết toán thuế, không trừ khi thực hiện khấu trừ tạm thời theo tỷ lệ 10% quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP.

Về bản cam kết tạm thời chưa khấu trừ thuế: Cá nhân chỉ được lập cam kết khi thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% và ước tính tổng thu nhập chịu thuế trong năm sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế. Căn cứ bản cam kết hợp lệ, Công ty tạm thời chưa khấu trừ thuế và có trách nhiệm tổng hợp danh sách, thu nhập củacác cá nhân theo quy định. Trường hợp sau đó cá nhân phát sinh thêm thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công hoặc nguồn thu nhập khác làm phát sinh số thuế phải nộp thì cá nhân có trách nhiệm kê khai, quyết toán, nộp thuế theo quy định và chịu trách nhiệmvề nội dung cam kết của mình; trường hợp có gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Độc giả căn cứ hồ sơ, chứng từ và tình hình thực tế phát sinh, đối chiếu với các quy định pháp luật nêu trên để thực hiện. 

PV

Nguồn TCDN: https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/nguoi-lao-dong-nghi-viec-truoc-ngay-tra-luong-doanh-nghiep-khau-tru-10-hay-tinh-thue-luy-tien-d69529.html