Người mẹ có 3 con nhiễm chất độc da cam: Từ nỗi đau đến hành trình sẻ chia

Từng nuôi những người con bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam suốt 32 năm, bà Phan Thị Năm (SN 1950, khối phố Cẩm Sa, phường Điện Bàn Đông, TP Đà Nẵng) hiểu hơn ai hết nỗi nhọc nhằn của những gia đình có con khuyết tật. Từ đó, bà cùng chồng lặng lẽ sẻ chia, nâng đỡ những phận đời quanh mình.

 Những ký ức về 3 người con mang di chứng chất độc da cam vẫn đau đáu trong tâm trí bà Phan Thị Năm.

Những ký ức về 3 người con mang di chứng chất độc da cam vẫn đau đáu trong tâm trí bà Phan Thị Năm.

32 năm bên người con nhỏ bé

Ở tuổi ngoài 70, bà Năm đã mang trong mình không ít bệnh tật. Nhưng khi nhắc đến những gia đình có con bị khuyết tật, những nạn nhân chất độc da cam, giọng bà vẫn chậm rãi, đau đáu như thể câu chuyện ấy mới xảy ra hôm qua…

Bà từng có 32 năm làm mẹ của một đứa trẻ không thể lớn lên như bao người bình thường. “Khổ ghê lắm! Nói tới cái khổ hồi đó thì tôi nghĩ là không ai khổ như tôi hết đó. Không chỉ một đứa, cả ba đứa con của tôi đều là nạn nhân chất độc da cam!”, bà Năm nhớ lại.

Câu nói nghe tưởng như một lời than, nhưng phía sau đó là cả một đời người mẹ đã gồng mình đi qua những năm tháng cơ cực.

Vợ chồng bà Năm lặng lẽ nhìn tấm ảnh cũ của người con trai Phạm Đức Anh được ông bà chăm sóc suốt 32 năm.

Vợ chồng bà Năm lặng lẽ nhìn tấm ảnh cũ của người con trai Phạm Đức Anh được ông bà chăm sóc suốt 32 năm.

Năm 1968, khi tuổi đời còn rất trẻ, bà Năm tham gia cách mạng, được điều động lên vùng Thạnh Mỹ, Tây Giang, Đông Giang rồi ra A Lưới để vận chuyển đạn phục vụ chiến dịch. Những năm 1968, bà tham gia bộ đội, trực tiếp phục vụ chiến đấu trong đơn vị pháo mặt đất của tỉnh Quảng Đà (cũ). Năm 1973, bà được học y tá rồi trở về đơn vị tiếp tục phục vụ cho đến ngày đất nước giải phóng.

Ông Phạm Đức Thăng (SN 1945), chồng bà, cũng tham gia kháng chiến từ năm 1964. Cũng như bà, ông từng chiến đấu ở những vùng bị rải chất độc hóa học, bị thương và đến nay vẫn còn mảnh đạn trong cơ thể. Đôi mắt ông ngày càng mờ, cơ thể đau nhức mỗi khi trái gió trở trời.

Hai con người bước ra từ chiến tranh, mang trên mình những thương tích không dễ nhìn thấy. Rồi họ nên duyên vợ chồng, cùng nhau trở về cuộc sống đời thường và sinh ba người con. Những tưởng cuộc đời ngày hòa bình sẽ bước sang một trang khác, nhưng những di chứng chiến tranh lại tiếp tục hiện diện trong chính những đứa con bà sinh ra.

Năm 1978, bà sinh người con gái đầu lòng. Đứa trẻ vừa chào đời đã khó nuôi, trên cơ thể xuất hiện những mụn nhọt khiến người mẹ trẻ không khỏi xót xa. Bà đi tìm thuốc nam, thuốc bắc, ai chỉ cách gì cũng làm, chỉ mong con bớt đau.

Hai năm sau, bà sinh người con gái thứ hai. Lần này, nỗi lo lại đến theo một cách khác: Đôi chân của con mềm nhũn, không thể đứng vững. Bà sợ con sẽ chẳng bao giờ biết đi. Những ngày sau đó là những lần đưa con đi bệnh viện, kiên trì chăm sóc, tập luyện. Mãi đến năm 6-7 tuổi, cô con gái mới chập chững những bước đầu tiên.

Nhưng nỗi đau lớn nhất vẫn còn ở phía trước. Năm 1982, bà sinh người con trai út. Mới được hai tháng tuổi, đứa trẻ phát bệnh, đau đến mức bỏ cả bú. Hai vợ chồng bà đã đưa con đi qua nhiều bệnh viện, từ Quảng Nam (cũ) đến Huế, tìm đủ cách chữa trị, chăm sóc.

Anh Phạm Đức Anh (bìa trái) - người con trai út của vợ chồng bà Năm, đã sống 32 năm với những di chứng nặng nề của chất độc da cam.

Anh Phạm Đức Anh (bìa trái) - người con trai út của vợ chồng bà Năm, đã sống 32 năm với những di chứng nặng nề của chất độc da cam.

“Kinh tế gia đình khi ấy khó khăn, vợ chồng tôi chẳng có bao nhiêu tiền. Ngoài giờ làm, chúng tôi còn cặm cụi làm nông để có thêm cái ăn, tiền thuốc cho con. Có lúc không thể gửi con cho ai, tôi phải bế con theo đến cơ quan. Càng lớn, những di chứng trên cơ thể con càng rõ rệt, các khớp xương bị vôi hóa, bị lớn tim, tăng áp suất phổi, đi lại như robot…”, bà Năm hồi tưởng.

32 làm mẹ cũng là 32 năm bà Năm sống trong nỗi lo thường trực. Người con trai ấy khi ngoài 30 tuổi vẫn chỉ nặng khoảng 25kg, cao chưa tới một mét.

“Thời kỳ đó cực ghê lắm! Con thì nhỏ, đứa lớn đau, đứa nhỏ đau. Cho nên không thể tả hết được cái nỗi khổ của mình hồi đó...”, bà Năm nghẹn ngào.

Từng học y tá trong chiến khu, bà có thêm những kiến thức để chăm sóc con. Bà tin rằng nếu không có những hiểu biết ấy, có lẽ người con trai đã không thể sống đến năm 2014. Nhưng cũng từ những năm tháng ấy, bà nhận ra quanh mình còn rất nhiều người mẹ đang phải sống với một nỗi đau tương tự.

Khi yêu thương trở thành một cách sống

Năm 2005, hành trình thiện nguyện của vợ chồng bà Năm rõ nét hơn. Bà tham gia công tác phụ nữ ở địa phương từ năm 2005-2012, sau đó tiếp tục gắn bó hơn 15 năm với công tác Hội Cựu chiến binh. Ông Thăng từng có 15 năm làm Phó Chủ tịch Mặt trận xã, phường.

Công việc đưa họ đến với nhiều hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là những gia đình có nạn nhân chất độc da cam. Từ sự đồng cảm của những người từng chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh, hai vợ chồng bắt đầu đi vận động tiền, quà và cả sinh kế để giúp những gia đình nghèo có thêm điểm tựa.

Sau những năm tháng chịu nhiều mất mát, vợ chồng bà Năm chọn sẻ chia với những gia đình cùng cảnh ngộ, như một cách trao gửi yêu thương và nghĩa tình.

Sau những năm tháng chịu nhiều mất mát, vợ chồng bà Năm chọn sẻ chia với những gia đình cùng cảnh ngộ, như một cách trao gửi yêu thương và nghĩa tình.

Với ông Thăng, đó không phải việc làm nhất thời. Có khi ông vận động được vài trăm nghìn đồng, có lúc một, hai triệu đồng. Có gia đình được ông cùng Hội Chữ thập đỏ vận động một con bò để nuôi, tạo thêm nguồn thu nhập.

Bà Năm cũng đi cùng chồng trong những chuyến vận động ấy. Bởi bà hiểu rất rõ cảm giác bất lực của một người mẹ khi nhìn con đau mà trong nhà chẳng có tiền.

“Tôi thấy thời buổi đó họ khó khăn mà con cái bị chất độc da cam, cũng cực khổ như mình rứa. Nên vợ chồng tôi đi vận động để giúp đỡ những hoàn cảnh đó, để cho con cái họ có một cái gì đó và để an ủi họ trong những lúc khó khăn”, bà Năm chia sẻ.

Một trong những gia đình được vợ chồng bà nhiều lần quan tâm là gia đình bà Vương Thị Ba. Gia đình có 2 trong 3 người con bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học, cuộc sống nhiều năm thiếu trước hụt sau. Vợ chồng bà Năm thường xuyên vận động tiền, quà và hỗ trợ sinh kế cho gia đình. Có lần, họ vận động được một con bò để gia đình nuôi, tạo thêm nguồn thu nhập.

Nhắc đến vợ chồng bà Năm, bà Vương Thị Ba xúc động chia sẻ: “Ông bà Năm thương hoàn cảnh nhà tôi lắm! Có chi giúp được là ông bà vận động, khi thì tiền, khi thì quà, rồi còn tìm cách giúp gia đình có con bò để nuôi. Nhà tôi khó khăn, con cái lại bệnh tật, có người hỏi han, động viên như vậy quý lắm!”

Bà Năm trò chuyện, thăm hỏi bà Vương Thị Ba, một trong những gia đình có con bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học.

Bà Năm trò chuyện, thăm hỏi bà Vương Thị Ba, một trong những gia đình có con bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học.

Với bà Năm, những điều mình làm chẳng có gì lớn lao. Bà không giữ lại hình ảnh, cũng chẳng nghĩ đến chuyện ghi chép thành tích. Những việc đã làm, bà coi như một cách trả nghĩa cuộc đời.

Ông Thăng cũng vậy. Những đứa trẻ bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học trong khu vực Điện Nam Bắc (cũ) thường rất quý ông. Mỗi lần thấy ông đến, có cháu gọi vào nhà, vỗ tay mừng rỡ. Ông đi đâu, gặp trường hợp nào cần giúp thì cố gắng vận động, xin được gì hỗ trợ nấy.

Không chỉ vận động giúp đỡ, ông Thăng còn nhiều năm hỗ trợ người dân hoàn thiện hồ sơ, tìm kiếm chế độ chính sách. Có trường hợp hồ sơ thất lạc, ông tự bỏ tiền, vào cơ quan lưu trữ tìm kiếm tài liệu để giúp họ làm thủ tục. 

Ông kể, điều ông giữ gìn nhất là sự trong sáng của những việc mình làm: Người ta có thể biết ơn, có thể mang quà đến, nhưng ông đều trả lại, không nhận tiền bạc hay lợi ích riêng.

Giờ đây, tuổi đã cao, sức khỏe không còn cho phép hai vợ chồng đi nhiều như trước. Bà Năm mang trong người nhiều bệnh tật; ông Thăng mắt ngày càng mờ, những chuyến đi cũng vì thế thưa dần. Nhưng mỗi khi nhắc đến những gia đình từng được giúp đỡ, bà Năm vẫn nhớ những ánh mắt từng sáng lên khi nhận được sự sẻ chia.

Ở tuổi xế chiều, bà Năm hay nhắc về người con trai đã mất bằng một giọng thương yêu: “Trước lúc ra đi, thằng bé bảo: Ông bà thương con, mang con đi trước ba má như vậy là quý quá rồi! Chứ con chỉ sợ ba má yếu, con cũng không khỏe, ai sẽ chăm cho gia đình mình”.

Người con đã đi xa, nhưng tình yêu của người mẹ vẫn ở lại. Và từ tình yêu ấy, bà đã chọn cách bước tiếp: Tìm đến những gia đình có hoàn cảnh giống mình, sẻ chia một chút vật chất, một lời động viên, một kinh nghiệm chăm con, hay đơn giản chỉ là ngồi xuống lắng nghe. Bởi bà hiểu, với một gia đình có con là nạn nhân chất độc da cam, đôi khi điều quý giá nhất không chỉ là một phần quà hay khoản tiền hỗ trợ, mà là cảm giác mình không bị bỏ lại một mình giữa những tháng ngày gian khó.

Nguyễn Thị Thúy Hiền

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/nguoi-me-co-3-con-bi-chat-doc-da-cam-tu-noi-dau-den-hanh-trinh-se-chia-238260809212727965.htm