Người nổi tiếng quảng cáo coin trên mạng xã hội có bị xử phạt?
Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa đã có hiệu lực và có thêm mốc thời hạn 6 tháng đối với nhà đầu tư trong nước, tính từ thời điểm Sàn giao dịch tài sản mã hóa được cấp phép.

Luật sư Nguyễn Hữu Tuấn, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội
Luật sư Nguyễn Hữu Tuấn, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội đã trao đổi với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc xung quanh vấn đề này, trong bối cảnh thị trường tài sản số tại Việt Nam đang phát triển nhanh.
Thưa luật sư! Ông có thể phân tích mức xử phạt của một số hành vi quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép, theo quy định mới của Nghị định 284? Những KOL (người dẫn dắt dư luận chủ chốt), KOC (người tiêu dùng chủ chốt có sức ảnh hưởng lớn trên thị trường), người nổi tiếng quảng cáo hoặc giới thiệu coin trên Facebook, TikTok sẽ bị xử phạt ra sao?
Điểm mấu chốt của Nghị định 284 là phải xác định nội dung đăng tải và hoạt động mà người đó đang quảng bá. Theo điểm b khoản 4 Điều 7 Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định hành vi quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp Giấy phép dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa có thể bị phạt từ 180 đến 200 triệu đồng đối với tổ chức.
Đối với cá nhân, mức phạt được áp dụng bằng một phần hai, tức 90 đến 100 triệu đồng. Ngoài phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc hủy bỏ, cải chính thông tin theo quy định.
Tuy nhiên tôi cho rằng, cần tránh cách hiểu rằng cứ nói về Bitcoin, Ethereum hay một loại tài sản mã hóa nào đó trên Facebook, TikTok là bị phạt. Theo đó, cơ quan chức năng sẽ phải xem xét tư cách của người thực hiện, mục đích, nội dung và bản chất của hành vi.
Nếu một người chỉ chia sẻ kiến thức, phân tích thị trường hoặc đưa ra quan điểm cá nhân mà không thực hiện quảng cáo, tiếp thị trái phép, không nhận tiền để lôi kéo người khác đầu tư vào một nền tảng hoặc dự án trái phép, sẽ không bị xử phạt.
Ngược lại, nếu KOL, KOC hoặc người có ảnh hưởng nhận tiền để quảng bá một dự án, cam kết lợi nhuận, kêu gọi người khác nạp tiền, đặc biệt biết rõ dự án có dấu hiệu gian dối nhưng vẫn tiếp tay, hậu quả pháp lý có thể nghiêm trọng hơn rất nhiều.
Trong trường hợp có đủ căn cứ chứng minh hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản và người quảng bá có vai trò đồng phạm, người này có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS), tùy thuộc vào tính chất, mức độ và các yếu tố cấu thành tội phạm.
Vì vậy, KOL, KOC không nên nghĩ rằng “tôi chỉ quảng cáo, còn dự án có lừa đảo hay không là việc của người khác”. Nếu biết rõ bản chất sai phạm, vẫn cố tình tiếp tay, trách nhiệm pháp lý có thể rất lớn.
Hiện nay nhiều người vẫn dùng các khái niệm như “tiền ảo”, “coin rác”, “tài sản ảo”, “tài sản mã hóa” và “coin scam”. Vậy về mặt pháp lý, theo ông, cần phân biệt như thế nào?
Đây là điểm rất quan trọng, bởi không phải cứ gọi là “coin”, về mặt pháp lý đều giống nhau.
Theo Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, tài sản mã hóa là loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao.
Nghị quyết 05/2025/NQ-CP cũng quy định về tài sản mã hóa theo hướng này và loại trừ một số đối tượng như chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và các tài sản khác thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về dân sự, tài chính.
Trong khi đó, “tiền ảo” là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống và thị trường, nhưng không nên mặc nhiên đồng nhất với khái niệm pháp lý “tài sản mã hóa”.
“Coin rác” hay “shitcoin” cũng không phải là thuật ngữ pháp lý. Đây chủ yếu là cách gọi trên thị trường để chỉ những token hoặc dự án có mức độ rủi ro rất cao, thiếu nền tảng ứng dụng hoặc giá trị rõ ràng. Một token bị gọi là “coin rác” không đồng nghĩa với việc bản thân token đó đương nhiên là bất hợp pháp. Khi xem xét trách nhiệm pháp lý, phải căn cứ vào hành vi cụ thể và các quy định pháp luật có liên quan.
Còn dự án scam (lừa đảo) hoặc Ponzi (mô hình Ponzi là một hình thức lừa đảo tài chính bất hợp pháp) lại là câu chuyện khác.
Nếu một dự án được lập ra với mục đích gian dối, sử dụng thông tin giả để dụ dỗ nhà đầu tư đưa tiền rồi chiếm đoạt, tùy tính chất, mức độ và các yếu tố cấu thành tội phạm, những người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS.
Do vậy, nhà đầu tư cần hết sức thận trọng với những dự án có dấu hiệu: Cam kết lợi nhuận chắc chắn, lợi nhuận cực cao; yêu cầu liên tục nạp tiền để “mở khóa” hoặc “rút tiền”; dùng người nổi tiếng để tạo niềm tin nhưng không minh bạch về dự án; không rõ đội ngũ phát triển, pháp nhân, dòng tiền và cơ chế vận hành hoặc có dấu hiệu lấy tiền của người tham gia sau trả cho người tham gia trước. Đó là những dấu hiệu cần đặc biệt cảnh giác.
Thưa ông, thời gian gần đây trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin cho rằng từ đầu tháng 9/2026, nhà đầu tư mua bán tiền số, tài sản mã hóa sẽ bị xử phạt nặng, thậm chí có thông tin khuyến cáo nhà đầu tư phải bán ngay Bitcoin, Ethereum và các loại coin đang nắm giữ trên các sàn quốc tế để tránh bị phạt. Vậy thông tin này cần được hiểu như thế nào?
Đây là vấn đề đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, đặc biệt trong cộng đồng những người đang đầu tư, nắm giữ tiền số và tài sản mã hóa. Trước hết nhà đầu tư cần bình tĩnh và phân biệt rất rõ giữa việc “đang nắm giữ tài sản” với việc “thực hiện giao dịch mới”.
Nghị định số 284/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa đã có hiệu lực. Đây là một bước quan trọng nhằm xác lập rõ hơn các hành vi vi phạm và chế tài xử lý trong lĩnh vực này.
Trước đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam. Nghị quyết quy định về việc thí điểm chào bán, phát hành tài sản mã hóa; tổ chức thị trường giao dịch; cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa và quản lý nhà nước đối với thị trường này.
Nghị định 284 sau đó bổ sung cơ chế xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi không tuân thủ các quy định của thị trường tài sản mã hóa. Đối với tổ chức, mức phạt tối đa theo Nghị định có thể lên tới 200 triệu đồng; cá nhân thực hiện hành vi tương tự bị áp dụng mức phạt bằng một phần hai mức phạt đối với tổ chức, tức tối đa 100 triệu đồng.
Ví dụ, theo Điều 9 Nghị định 284/2026/NĐ-CP, hành vi nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được Bộ Tài chính cấp phép có thể bị phạt từ 15 đến 25 triệu đồng đối với cá nhân và từ 30 đến 50 triệu đồng đối với tổ chức.
Nếu là giao dịch tài sản mã hóa được chào bán, phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài, mức phạt đối với cá nhân có thể từ 35 đến 50 triệu đồng, còn tổ chức từ 70 đến 100 triệu đồng.
Nhưng ở đây có một điểm pháp lý rất quan trọng mà nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý.
Theo nội dung Nghị quyết 05/2025/NQ-CP được đề cập trong kịch bản này, chế tài đối với hành vi giao dịch không qua tổ chức được cấp phép không đồng nghĩa với việc từ sau ngày 1/9/2026 là mọi hoạt động liên quan đến tiền số đều lập tức bị xử phạt.
Nghị quyết quy định thời điểm áp dụng chế tài đối với hành vi giao dịch không qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được cấp phép gắn với mốc 6 tháng kể từ ngày tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đầu tiên được cấp phép chính thức.
Vì vậy, nhà đầu tư cần phân biệt tài sản mã hóa mà mình đang nắm giữ; các giao dịch mua, bán mới được thực hiện sau khi cơ chế chuyển tiếp và thời điểm áp dụng chế tài được kích hoạt.
Theo cách hiểu này, việc nhà đầu tư đang nắm giữ Bitcoin, Ethereum hoặc các tài sản mã hóa khác trên sàn quốc tế không có nghĩa là cứ sau ngày 1/9/2026, phải bán tháo ngay để tránh bị phạt. Nhà đầu tư không nên hành động chỉ dựa trên những thông tin lan truyền trên mạng xã hội.
Điều quan trọng là phải theo dõi thời điểm chính thức tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đầu tiên được cấp phép, bởi đây là mốc có ý nghĩa trong việc xác định thời gian chuyển tiếp theo quy định.
Hiện nay Việt Nam đã có những tổ chức nào được cấp phép cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa chưa, thưa luật sư?
Tính đến thời điểm này, chưa có tổ chức nào được Bộ Tài chính công bố chính thức đã được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa. Trước đó, Bộ Tài chính đã đánh giá 5 hồ sơ của doanh nghiệp là đầy đủ, hợp lệ để tiếp tục quy trình xem xét cấp phép.
Theo Đề án thí điểm, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước để lựa chọn tối đa 5 tổ chức đủ điều kiện. Do đó, với nhà đầu tư, điều cần quan tâm không phải là những tin đồn kiểu “ngày 1/9 phải bán hết coin”, mà là thông tin chính thức về: Tổ chức đầu tiên được cấp phép là ai?; được cấp phép vào thời điểm nào?; những dịch vụ nào được phép cung cấp?
Và từ thời điểm đó, mốc chuyển tiếp 6 tháng được tính như thế nào? Đây mới là những thông tin có ý nghĩa trực tiếp đối với việc xác định quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư.
Trong thời gian này, nhà đầu tư nên chủ động lưu giữ các tài liệu chứng minh nguồn gốc tài sản, lịch sử giao dịch và dòng tiền, đồng thời hết sức thận trọng khi thực hiện các giao dịch mới trên các nền tảng chưa được cấp phép.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Việt Nam hiện có khoảng 17 triệu người sở hữu và giao dịch tài sản số, thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; đồng thời nằm trong Top 5 về mức độ quan tâm tài sản số và top 3 về sử dụng sàn quốc tế.
Nhà đầu tư cần phân biệt rõ giữa việc nắm giữ tài sản và việc thực hiện giao dịch mới; giữa chia sẻ thông tin và hoạt động quảng cáo, tiếp thị; giữa một token rủi ro cao và một dự án có dấu hiệu lừa đảo. Trong giai đoạn thị trường tài sản mã hóa đang được xây dựng và thí điểm, điều quan trọng nhất là theo dõi thông tin chính thức từ Cơ quan quản lý, lưu giữ hồ sơ giao dịch, kiểm soát nguồn tiền và không thực hiện những giao dịch hoặc hoạt động mà pháp luật đã xác định là bị cấm hoặc phải có giấy phép nhưng chưa đáp ứng điều kiện.
