Người phụ nữ xứ Tày dành hơn nửa đời người cho những câu Then

Hơn 30 năm gắn bó với hát Then, chị Đào Thị Thoa ở Thái Nguyên vẫn miệt mài gìn giữ tiếng đàn Tính, lời Then của người Tày, mong di sản quê hương ngân vang qua nhiều thế hệ.

Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng đàn Tính cùng những làn điệu Then của đồng bào Tày ở Thái Nguyên vẫn bền bỉ ngân vang, lưu giữ ký ức văn hóa của bao thế hệ.

Lời Then thấm đẫm ký ức bản làng

Trong những nếp nhà sàn ở xã Đức Lương (tỉnh Thái Nguyên), tiếng đàn Tính, lời Then vẫn hiện diện trong đời sống cộng đồng, như sợi dây kết nối con người với cội nguồn và những ký ức thân thuộc của bản làng.

Gắn bó với nghệ thuật hát Then hơn 30 năm, chị Đào Thị Thoa (sinh năm 1977) đã yêu thích những làn điệu Then từ thuở nhỏ. Tình yêu ấy bắt đầu từ những đêm mùa đông bên bếp lửa, khi chị ngồi lắng nghe cha mẹ cất lời hát.

“Thuở tôi còn bé, vào những đêm đông ngồi bên bếp lửa bập bùng, tôi đều được nghe bố mẹ hát Then. Ngày qua ngày, nghe nhiều thành quen, tôi dần thuộc lòng từng câu, từng chữ. Làn điệu ấy cứ thế ngấm vào tâm hồn mình lúc nào không hay”, chị Thoa nhớ lại.

Chị Đào Thị Thoa (người cầm đàn) đã có hơn 30 năm gắn bó với nghệ thuật hát Then, góp phần gìn giữ làn điệu truyền thống của đồng bào Tày.

Chị Đào Thị Thoa (người cầm đàn) đã có hơn 30 năm gắn bó với nghệ thuật hát Then, góp phần gìn giữ làn điệu truyền thống của đồng bào Tày.

Tuy nhiên, từ chỗ thuộc lời ca đến khi trực tiếp cầm đàn, giữ nhịp và thể hiện trọn vẹn một bài Then là cả quá trình học hỏi, rèn luyện. Theo chị Thoa, cái khó không chỉ nằm ở việc nhớ lời mà còn ở cách lấy hơi, luyến láy và giữ nhịp sao cho giọng hát hòa quyện với tiếng đàn.

“Không phải cứ thuộc lời là có thể hát được đâu. Muốn câu Then tròn trịa, người hát phải làm chủ được nhịp đàn, bởi tiếng đàn và giọng hát luôn hòa quyện với nhau. Nếu lệch nhịp, hồn cốt của câu hát, bài ca sẽ trở nên rời rạc”, chị chia sẻ.

Trong hát Then, đàn tính không chỉ là nhạc cụ đệm hát mà còn góp phần tạo nên âm sắc đặc trưng của loại hình nghệ thuật này. Tiếng đàn khi khoan thai, trầm lắng, lúc ngân nga, dìu dặt, nâng đỡ giọng hát và dẫn dắt cảm xúc người nghe.

Tiếng đàn Tính hòa quyện cùng lời Then, tạo nên nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Tày ở Thái Nguyên.

Tiếng đàn Tính hòa quyện cùng lời Then, tạo nên nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Tày ở Thái Nguyên.

Để tạo nên âm thanh đặc trưng ấy, việc chế tác đàn Tính đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ trong từng công đoạn. Một cây đàn thường gồm ba bộ phận chính là bầu đàn, cần đàn và dây đàn. Bầu đàn được làm từ quả bầu già phơi khô, hình dáng tròn đều, kích thước khoảng 15-25cm; mặt đàn thường làm từ gỗ ngô đồng, được gia công mỏng để tạo độ cộng hưởng phù hợp.

Trên mặt đàn, những lỗ thoát âm được tạo hình cẩn thận, góp phần giúp âm thanh vang và rõ hơn. Cần đàn được chế tác từ gỗ, phải thẳng và dài, bề mặt nhẵn để người chơi thuận tiện khi bấm dây, luyến láy. Dây đàn trước đây thường làm từ tơ xe, nay có thể được thay bằng dây nilon nhằm tăng độ bền và thuận tiện khi sử dụng.

Với chị Đào Thị Thoa, mỗi câu Then không chỉ là lời ca mà còn là ký ức tuổi thơ và tình yêu dành cho văn hóa quê hương.

Với chị Đào Thị Thoa, mỗi câu Then không chỉ là lời ca mà còn là ký ức tuổi thơ và tình yêu dành cho văn hóa quê hương.

Mỗi chi tiết đều góp phần tạo nên âm sắc riêng của đàn Tính. Nhưng để tiếng đàn thực sự hòa vào lời Then, người nghệ nhân còn cần sự kiên trì, cảm nhận tinh tế và hiểu biết về không gian văn hóa đã nuôi dưỡng loại hình nghệ thuật này qua nhiều thế hệ.

Giữ hồn Then trước nhịp sống hiện đại

Then không chỉ là lời ca, tiếng hát mà còn gắn với đời sống tinh thần, tín ngưỡng của đồng bào Tày. Qua những làn điệu được trao truyền, người nghe có thể cảm nhận thế giới quan, tâm tư và những ước vọng về cuộc sống bình an, tốt đẹp.

Đặc biệt, trong các nghi lễ truyền thống, hát Then mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thể hiện sự giao hòa giữa con người với trời đất và thế giới tâm linh theo quan niệm dân gian. Chính chiều sâu văn hóa ấy tạo nên sức hấp dẫn riêng, đồng thời đòi hỏi người thực hành phải hiểu và trân trọng những giá trị nằm sau mỗi câu hát.

Bài Then được chép tay, lưu giữ lời ca và giai điệu truyền thống.

Bài Then được chép tay, lưu giữ lời ca và giai điệu truyền thống.

Hiện nay, việc truyền dạy Then ở nhiều cộng đồng vẫn chủ yếu dựa vào phương thức truyền khẩu, thông qua quá trình học trực tiếp từ người đi trước trong gia đình và bản làng. Cách truyền dạy này giúp giữ được sự gần gũi, tự nhiên, nhưng cũng gặp không ít khó khăn khi người trẻ ngày càng ít có thời gian gắn bó với không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống.

“Giới trẻ giờ đây thường lập nghiệp xa quê, làm việc tại các khu công nghiệp hoặc thành phố, thậm chí định cư tại đó. Vì vậy, các em ít có điều kiện gần gũi với loại hình nghệ thuật này”, chị Thoa trăn trở.

Bởi thế, với chị, giữ gìn Then không chỉ là tiếp tục cất lên những câu hát quen thuộc mà còn là tìm cách để lớp trẻ hiểu, yêu và chủ động đón nhận di sản. Mỗi người học thêm một làn điệu, mỗi lần tiếng đàn vang lên trong không gian cộng đồng đều góp phần nối dài mạch nguồn văn hóa.

Cây đàn Tính là nhạc cụ gắn bó mật thiết với nghệ thuật hát Then, góp phần tạo nên âm hưởng sâu lắng, mộc mạc của núi rừng.

Cây đàn Tính là nhạc cụ gắn bó mật thiết với nghệ thuật hát Then, góp phần tạo nên âm hưởng sâu lắng, mộc mạc của núi rừng.

Chùm nhạc rung là nhạc cụ phụ trợ trong hát Then của người Tày, tạo âm thanh vui tai, góp phần làm phong phú nhịp điệu và tăng sức biểu cảm cho lời ca, tiếng đàn Tính.

Chùm nhạc rung là nhạc cụ phụ trợ trong hát Then của người Tày, tạo âm thanh vui tai, góp phần làm phong phú nhịp điệu và tăng sức biểu cảm cho lời ca, tiếng đàn Tính.

Trong bối cảnh công nghệ số ngày càng phát triển, việc mở rộng không gian thực hành và lan tỏa di sản trên các nền tảng số cũng mở ra hướng đi mới. Đây là cơ hội để những giai điệu vốn gắn bó với bản làng vượt khỏi phạm vi địa phương, tiếp cận đông đảo công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Khi được ghi âm, lưu trữ và giới thiệu trên môi trường số, những giai điệu dân gian không chỉ có thêm cơ hội đến gần công chúng mà còn có thể trở thành nguồn tư liệu phục vụ việc bảo tồn, nghiên cứu và phát huy giá trị di sản. Từ đó, chất liệu truyền thống tiếp tục khơi nguồn sáng tạo, đóng góp cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa.

Giữa những đổi thay của cuộc sống, tại xã Đức Lương, chị Thoa vẫn bền bỉ giữ gìn niềm đam mê với Then. Với chị, đó không phải điều gì quá lớn lao, mà đơn giản là tiếp tục làm công việc mình đã gắn bó suốt nhiều năm, để tiếng đàn, lời hát của cha mẹ và ông bà không bị đứt quãng theo thời gian.

“Tôi còn hát được ngày nào thì còn giữ ngày đó. Sau này, nếu con cháu có tâm muốn học, vẫn còn người truyền dạy để làn điệu này không bị lãng quên”, chị Thoa bộc bạch.

Chính quyền xã Đức Lương xác định việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày là nhiệm vụ gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống tinh thần của người dân.

Thông qua các hoạt động giao lưu, biểu diễn và sinh hoạt cộng đồng, địa phương khuyến khích người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, chủ động gìn giữ, trao truyền bản sắc văn hóa dân tộc. Việc gắn bảo tồn hát Then với đời sống thường nhật, nghề trồng chè và các hoạt động văn hóa tại địa phương cũng góp phần tạo không gian để di sản tiếp tục được thực hành, phát huy giá trị trong bối cảnh hiện nay.

Bảo Khánh

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/hon-30-nam-giu-hon-then-cua-nguoi-tay-o-thai-nguyen-2567126.html