Người về trong bóng hoàng lan

HNN - Khi những tia nắng sớm vừa chạm ngõ, bà Hoài đang ngồi bên hiên nhà nhặt những chiếc lá vàng thì nghe tiếng xe máy dừng trước cổng. Người đàn ông mặc quân phục đứng ngoài hàng rào, tay cầm một tập hồ sơ mỏng. Ông hỏi:

- Đây có phải nhà liệt sĩ Nguyễn Văn Đức không ạ?

Bà Hoài ngẩng lên. Ở tuổi ngoài 70, khuôn mặt bà đã in hằn những nếp nhăn. Mái tóc bạc quá nửa, đôi mắt không còn tinh anh như trước nhưng chỉ một câu hỏi ấy cũng đủ khiến bàn tay bà đang cầm chiếc lá khựng lại. Cái tên ấy, bà đã chờ đợi hơn nửa thế kỷ. Bàn tay bà run lên.

- Phải. Cháu là...

Người đàn ông bước vào, tháo mũ, cúi đầu chào bà.

- Cháu là cán bộ của đơn vị quy tập hài cốt liệt sĩ. Chúng cháu có thông tin muốn báo với gia đình.

Bà Hoài không nghe hết câu sau mà chỉ nhìn chằm chằm vào tập hồ sơ trong tay người đàn ông. Suốt mấy chục năm qua, bà đã nhận không biết bao nhiêu tin báo như thế: Một người đồng đội nhớ mang máng địa danh, một ngôi mộ vô danh… Lần nào bà cũng đi rồi trở về với hai bàn tay trắng. Nhưng lần này, người cán bộ không nói “có thể”. Ông nói:

- Chúng cháu đã xác định được khu vực của bác Đức hy sinh trong trận đánh ở  biên giới Lào - Việt Nam. Đồng đội cũ của bác ấy đã trực tiếp chỉ dẫn. Hài cốt đã được quy tập và đang làm các thủ tục để đưa về quê nhà.

Chiếc lá trên tay bà Hoài rơi xuống đất. Bà ngồi bất động. Một lúc rất lâu sau, bà mới hỏi:

- Ông ấy... có về thật không chú?

Người cán bộ cúi đầu.

- Dạ. Bác ấy về rồi.

Bà Hoài đưa hai bàn tay lên mặt, đôi vai già nua run run lên. Bà nói, như thể nói với một người đang đứng ngay trước mặt:

- Anh Đức ơi...

Bà Hoài nhớ lại năm ấy, khi bà mới 20 tuổi. Ông Đức cũng tuổi đôi mươi. Đám cưới của họ được tổ chức trong dịp ông về phép, chỉ có vài mâm cơm và tiếng cười của những người thân trong làng. Ngày cưới, ông Đức tặng vợ một chiếc lược nhỏ. Bà Hoài giữ chiếc lược ấy suốt đời. Đến bây giờ, răng lược đã gãy gần hết nhưng bà vẫn không nỡ bỏ.

Hai người sống với nhau được bảy ngày thì ông Đức trở lại chiến trường. Trong bức thư đầu tiên gửi về sau ngày cưới, ông kể chuyện hành quân qua những cánh rừng già, những cơn mưa rừng dai dẳng. Có đoạn ông viết: “... anh cùng đồng đội trú mưa dưới một cây hoàng lan rất lớn. Không hiểu sao giữa rừng già, mùi hoa lại thơm đến thế. Anh mong chờ ngày chiến tranh kết thúc, nhất định nhà mình sẽ trồng một cây hoàng lan trước sân, và sau này có con gái, anh thích đặt tên con là Hoàng Lan!”.

Bức thư ấy được giao liên trao đến bà Hoài trong một chiều tháng 8, khi bà mang thai được ba tháng. Bà đọc đi đọc lại, rồi đặt bàn tay lên bụng và thì thầm với cái thai mới bằng một nắm tay:

- Con nghe thấy bố đặt tên cho con rồi đấy!

Hoàng Lan ra đời vào một ngày mùa đông. Con gái tròn một tháng tuổi thì bà nhận giấy báo tử của chồng. Tờ giấy báo tử chỉ có vài dòng ngắn ngủi: Liệt sĩ Nguyễn Văn Đức đã anh dũng hy sinh trong một trận đánh ở khu vực biên giới Lào - Việt Nam. Bà Hoài lặng lẽ đọc đi đọc lại hai chữ “hy sinh”, nước mắt nhòe đi trong giá buốt của mùa đông.

Hoàng Lan lớn lên với ký ức về cha là bức ảnh chân dung đen trắng, tấm bằng Tổ quốc ghi công treo trang nghiêm trên bức tường nhà, những bức thư ngả màu thời gian và những điều mẹ kể. Sau ngày đất nước hòa bình, cô chứng kiến hết lần này đến lần khác mẹ rong ruổi khắp các nghĩa trang ở miền Trung để tìm kiếm phần mộ của cha. Mỗi khi nghe tin nơi nào mới quy tập được nhiều hài cốt liệt sĩ từ bên kia biên giới, mẹ cô lại khăn gói lên đường nhưng rồi lại trở về với niềm hy vọng dang dở. Một lần, sau chuyến đi dài ngày, bà mang về một cây hoàng lan rồi tỉ mẩn trồng trước hiên nhà. Bà chăm chút cho cây như tiếp nối tâm nguyện của chồng.

Năm Hoàng Lan tròn 30 tuổi thì cây hoàng lan trước sân đã cao quá mái nhà. Thân cây không lớn lắm nhưng tán lá đã xòe rộng. Mỗi mùa hoa, hương thơm dịu dàng lan khắp khoảng sân nhỏ. Có những đêm gió thổi, những cánh hoa vàng nhạt rơi đầy trên bậc cửa, Hoàng Lan ngồi bên mẹ, nghe bà kể chuyện xưa. Cô nhớ đến vài lần theo mẹ tìm phần mộ cha. Có lần trời đổ mưa lớn, hai mẹ con đứng dưới mái hiên một nghĩa trang nhỏ, chờ người quản trang mở cổng. Họ cầm theo một tập giấy tờ đã nhàu góc, dò từng cái tên trên những tấm bia đá lạnh ngắt. Họ đi hết dãy này đến dãy khác. Mỗi lần nhìn thấy dòng chữ “Nguyễn Văn Đức”, bà Hoài lại khựng lại. Bà tiến đến gần, lấy khăn lau những giọt nước mưa trên mặt bia rồi chăm chú đọc từng dòng thông tin nhưng lần nào cũng vậy, sau cái tên ấy là một quê quán khác, một năm sinh khác, một đơn vị khác. Mẹ con cô cứ đi rồi trở về bên gốc hoàng lan đã già đi qua bao mùa mưa nắng.

Bà Hoài càng về già càng ít đi tìm, không phải vì đã thôi hy vọng mà vì đôi chân không còn cho phép bà đi xa. Những năm sau này, bà thường ngồi dưới gốc hoàng lan vào mỗi buổi chiều. Hoàng Lan từng hỏi mẹ:

- Mẹ chờ cha con đến bao giờ nữa?

Bà Hoài không trả lời ngay, mà đưa mắt nhìn xa xăm về cây hoàng lan trước sân.

- Đến khi nào cha con về thì thôi.

Hoàng Lan rưng rưng nhìn mẹ. Cô đã đủ lớn để hiểu có những cuộc chờ đợi không thể đo đếm bằng năm tháng.

Ngày chính quyền xã trang nghiêm tổ chức lễ truy điệu và an táng hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Đức tại nghĩa trang quê nhà, con đường làng nhỏ bỗng đông người. Hàng trăm người dân, cựu chiến binh, cán bộ địa phương lặng lẽ đứng thành hàng dài hai bên đường. Chiếc xe chở hài cốt dừng trước cổng. Những vòng hoa, nén hương được kính cẩn dâng lên. Bà Hoài được Hoàng Lan cùng các cháu dìu ra. Bà đứng rất lâu trước chiếc tiểu sành được phủ kín cờ Tổ quốc, bàn tay run run đặt lên.

- Anh Đức… Em đón anh về nhà!

Nhiều người có mặt lặng lẽ lau nước mắt. Hoàng Lan đứng phía sau mẹ. Cô nhìn tấm di ảnh của cha. Vẫn gương mặt ấy, vẫn nụ cười ấy trong tấm ảnh chân dung đen trắng mà mẹ cô đã giữ gìn hơn nửa thế kỷ, nhưng lần này ký ức về cha không còn qua lời kể. Cha đã thật sự trở về, rất gần mẹ con cô. Trong đôi mắt cô, hai hàng nước trong veo trào dâng từ bao giờ.

Sau lễ an táng, Hoàng Lan dìu mẹ về nhà. Hai mẹ con cô ngồi rất lâu trên chiếc ghế dài dưới tán cây hoàng lan trước sân. Họ nhìn lên những chùm hoa đang rung rinh trong ánh nắng dịu ngọt. Gió thổi qua mang theo hương hoa lan đi khắp nơi. Tán cây rộng đổ chiếc bóng xiên xiên trong nắng chiều như bóng người lính kiên trung năm xưa vừa trở về và giang vòng tay ôm lấy những người thân yêu trong ngày đoàn tụ…

Thương Thương

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/tac-gia-tac-pham/nguoi-ve-trong-bong-hoang-lan-169166.html