Người Việt Nam máu đỏ, da vàng - Bài 3: Người Đại tá kiên trung hơn một thập kỷ giữ lửa phong trào cựu chiến binh
Từng đi qua những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, Đại tá Nguyễn Minh Châu — cựu chiến sĩ đặc công, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận Ba Đình (cũ) không chỉ mang trong mình ký ức của một thời bom đạn, mà còn dành hơn một thập kỷ lặng thầm giữ lửa phong trào cựu chiến binh bằng tất cả tâm huyết và trách nhiệm với đồng đội, với thế hệ sau.

Thiết kế: Mỹ Huyền
Chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, chùm bài "Người Việt Nam máu đỏ, da vàng" là hành trình bằng mắt thấy, tai nghe của thế hệ phóng viên trẻ về sức mạnh của khối đại đoàn kết.
Từ niềm tự hào dòng máu lạc hồng đến khát vọng cống hiến của mỗi cá nhân, tôi tin rằng: Khi triệu trái tim cùng chung nhịp đập, sức mạnh nội sinh ấy sẽ là bệ phóng vững chắc đưa Việt Nam vươn mình giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.

Khi tôi nhắc về thời khắc ngày 30/4/1975, ánh mắt đồng chí Châu chợt bừng sáng lên cái thần thái của một chiến sĩ đặc công năm nào. Với ông, ngày toàn thắng không phải là một cột mốc nằm yên trên trang sách, mà là những ký ức rực cháy từ thực tiễn gian khổ; là thành quả của ý chí sắt đá và biết bao hy sinh xương máu của đồng chí, đồng bào dồn nén qua những năm tháng kháng chiến trường kỳ.

Đại tá Nguyễn Minh Châu - Ủy viên Thường vụ BCH Hội Cựu chiến binh TP Hà Nội, Nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận Ba Đình nhiệm kỳ 2022-2025, đại biểu HĐND phường Hồng Hà 2026 - 2031.
Trong dòng hồi tưởng ấy, đồng chí chậm rãi đưa tôi ngược dòng thời gian về những ngày tháng Tư rực lửa. Thuở ấy, ông là chiến sĩ kiên trung thuộc Đại đội 4, Tiểu đoàn 30, Trung đoàn 60, Sư đoàn 305. Với niềm tự hào sâu sắc, đồng chí nhắc lại lời dạy của Bác Hồ như một kim chỉ nam cho cả cuộc đời binh nghiệp: "Đặc công là công tác đặc biệt và làm nhiệm vụ đặc biệt".

Hoa nở trên ngực áo người cựu binh kiên trung.
Chính từ sứ mệnh thiêng liêng đó, nghệ thuật tác chiến "Luồn sâu, đánh hiểm, đánh nở hoa trong lòng địch" đã hiện lên qua lời kể của ông như một bản hùng ca đầy bi tráng. Giữa lằn ranh sinh tử "ngàn cân treo sợi tóc", những người lính quả cảm vẫn âm thầm thâm nhập vào tận tim cốt kẻ thù, giáng những đòn chí mạng, bất ngờ làm quân địch kinh tâm động phách. Biết bao trận đánh vang dội trong kháng chiến đã trở thành minh chứng sống động cho tinh thần thép và sự mưu trí vô song của binh chủng tinh nhuệ này.

Ảnh đồng chí Châu thời còn tham gia chiến tranh dưới vai trò chiến sĩ đặc công (Nhân vật đứng ngoài cùng bên trái).

Hòa bình hôm nay là tấm gương phản chiếu rõ nhất những hy sinh thầm lặng của bao con người vì đất nước.
Thế nhưng, chiến thắng nào cũng có những nốt trầm đầy đau thương. Giọng ông chùng xuống đầy nghẹn ngào khi nhắc về những trận chiến tại cửa ngõ Sài Gòn. Để bảo vệ những nhịp cầu huyết mạch cho đại quân tiến vào, 52 người con ưu tú đã vĩnh viễn nằm lại tại cầu Rạch Chiếc khi ánh bình minh hòa bình chỉ còn cách trong gang tấc.

Phóng viên báo Đại biểu Nhân dân xin được trích bài thơ "Rạch Chiếc" do nghệ nhân dân gian, nhà thơ Nguyễn Hồng Oanh sáng tác. Trong nhiều năm, ông vẫn luôn lặng lẽ tưởng niệm các chiến sĩ hy sinh ở cầu Rạch Chiếc mỗi dịp kỷ niệm chiến thắng 30/4.
Những thân hình sạm đen khói súng ấy, đứng hiên ngang bảo vệ mạch máu giao thông cho xe tăng tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, chính là một lát cắt nghệ thuật đầy ám ảnh.
Khi đại quân ta ào ạt tiến qua cầu, có lẽ chẳng mấy ai kịp để ý đến những chiến sĩ mình trần, mặc mỗi quần xà lỏn, súng AK băng gấp, người nhuộm đen vết ngụy trang đang lầm lì chốt giữ hai đầu cầu.
Hình ảnh người lính đặc công hiện lên vừa trần trụi, vừa bi tráng đến lay động tâm can
Đó là sự hiện thân của tinh thần hy sinh vô danh nhưng vĩ đại, dệt nên bài ca đại thắng mùa Xuân rực rỡ cờ hoa. Để khắc ghi công ơn ấy, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương đã trang trọng lập đền thờ các chiến sĩ đặc công hy sinh ngay tại chân cầu lịch sử này.

Dâng hương bên Bia tưởng niệm các chiến sĩ ở cầu Rạch Chiếc (tháng 4/2015).

Chiến tranh dần lùi xa vào dĩ vãng, nhưng với ông Châu, bản chất tốt đẹp của người lính với nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng chưa bao giờ có hồi kết. Sau hành trình dài cống hiến qua nhiều đơn vị từ các lực lượng Đặc công, Hải quân đến Quân đoàn 2, Bộ Tham mưu/ Tổng cục Hậu cần, ông trở về với cuộc sống đời thường khi mái đầu đã điểm bạc.

Với họ, vẻ đẹp rực rỡ nhất của tuổi hai mươi là được khoác lên mình màu xanh áo lính.
Bộ quân phục màu xanh không đơn thuần là trang phục, mà là mảnh ghép ký ức vô giá, là niềm kiêu hãnh của một thời trai trẻ "không chọn việc nhẹ nhàng". Đó là sự lựa chọn của một thế hệ luôn tự hào với danh xưng Bộ đội Cụ Hồ. Ông tâm sự đầy xúc động: "Đó là danh hiệu cao quý mà nhân dân đã dành trọn tình yêu để đặt cho quân đội mình. Hiếm có quân đội nào trên thế giới được nhân dân yêu quý, tin cậy lấy tên gọi của vị lãnh tụ kính yêu để đặt cho như vậy".

Với đồng chí Châu, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà để mỗi ngày tự nhắc mình sống xứng đáng với những điều Người căn dặn.
Nhắc đến cơ duyên gắn bó với công tác Hội Cựu chiến binh, ánh mắt ông chợt ưu tư khi hồi tưởng về những biến động lịch sử cuối thập niên 80. Đối với vị cựu binh dày dạn kinh nghiệm ấy, sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu là bài học xương máu về sự lung lay ý chí dẫn đến tan rã niềm tin. Đó là điều mà các Cựu chiến binh luôn khắc cốt ghi tâm:
"Bài học của Liên Xô vẫn còn đó: Khi chỉ có vài trăm ngàn Đảng viên, họ đã làm nên Cách mạng Tháng Mười rung chuyển thế giới; khi có hơn 5 triệu Đảng viên, họ đã cứu loài người khỏi thảm họa phát xít; thế nhưng khi con số ấy lên đến hơn 20 triệu, tất cả lại tan rã. Đó là bài học đắt giá về sự khủng hoảng lòng tin... Những người lính năm xưa như chúng tôi nguyện không để điều đó xảy ra trên đất nước mình," đồng chí chia sẻ.

"Người lính có thể rời tay súng, nhưng tuyệt đối không bao giờ được phép rời bỏ trận địa tư tưởng," đồng chí Nguyễn Minh Châu nghẹn ngào chia sẻ.
Ông cùng hàng triệu đồng đội luôn tâm niệm một chân lý thép: "Người lính có thể rời tay súng, nhưng tuyệt đối không bao giờ được phép rời bỏ trận địa tư tưởng". Chính vì lẽ đó, Hội Cựu chiến binh ra đời không chỉ là một tổ chức xã hội, mà còn là "tuyến phòng thủ" mới của những người con đã kinh qua lửa đạn. Tại đây, mỗi hội viên đều mang trên vai sứ mệnh thiêng liêng: "Khơi dậy và truyền lửa cho thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử vẻ vang của Quân đội và đất nước". Đó là cách để những giá trị của quá khứ mãi luôn đồng hành cùng dòng chảy của tương lai.

Ông lặng lẽ gọi tên từng đồng đội cũ, như thể những năm tháng sát cánh năm nào vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức.

“Gia tài” lớn nhất của đồng chí Châu không nằm ở vật chất, mà ở những bức ảnh kỷ niệm ông mang theo suốt một đời người.
Giờ đây, giữa dòng chảy hối hả của cuộc sống thường nhật, ông Châu vẫn lặng lẽ viết tiếp cuộc hành trình đầy nghĩa tình bằng việc chăm lo cho đồng đội và gắn kết những tâm hồn từng đi qua khói lửa. Niềm tin sắt đá vào con đường dân tộc đã chọn chính là kim chỉ nam giúp ông giữ vững bản lĩnh của người chiến sĩ năm nào. Nhìn bóng dáng tận tụy ấy, tôi chợt nhận ra rằng có những người lính dù đã trút bỏ bộ quân phục để trở về với đời thường nhưng tâm hồn họ vẫn mãi là những pháo đài âm thầm canh giữ các giá trị cao đẹp giữa lòng thời bình.

Từng đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội Cựu chiến binh quận Ba Đình — vùng đất địa linh nhân kiệt, trung tâm hành chính, chính trị của cả nước, đồng chí Châu luôn ý thức trọng trách này không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là sự kế thừa danh dự thiêng liêng. Với một tổ chức đặc thù quy tụ gần 7.000 hội viên, trong đó có hàng trăm tướng lĩnh và hàng ngàn sĩ quan cao cấp, ông chiêm nghiệm sâu sắc rằng vinh dự luôn song hành cùng trách nhiệm.

Mái tóc điểm bạc theo năm tháng, nhưng lòng yêu nước và niềm tự hào người lính trong đồng chí Châu chưa bao giờ phai nhạt.
Giữa tập thể của những anh hùng từng lẫy lừng khắp các chiến trường, ông xác định tôn chỉ hoạt động duy nhất cho mình chính là lời dạy của Bác Hồ: "Gương mẫu là mệnh lệnh không lời". Đồng chí Châu tin rằng người cán bộ Hội không cần hô hào đao to búa lớn, bởi lối sống trách nhiệm và gương mẫu chính là chìa khóa để anh em tự khắc tin yêu, đồng lòng.
Chính tư duy ấy đã giúp Hội Cựu chiến binh quận Ba Đình liên tục giữ vững vị thế dẫn đầu Thủ đô suốt hơn một thập kỷ qua. Dù ở cương vị lãnh đạo, ông Châu vẫn giữ thái độ khiêm nhường, luôn sẵn lòng lắng nghe và học hỏi từ những bậc tiền bối như Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, hay những hội viên bình dị mà cao quý như ông Nguyễn Trung Chắt — người cha đỡ đầu của hơn 300 đứa trẻ mồ côi.

Dưới sự dẫn dắt của ông, Hội Cựu chiến binh quận Ba Đình (cũ) đã có rất nhiều đóng góp tốt đẹp cho cộng đồng.


Tặng bò cho người dân phát triển kinh tế ở Điện Biên.
Dưới sự dẫn dắt của ông, Hội Cựu chiến binh quận Ba Đình không chỉ đơn thuần là nơi gặp gỡ của những người đồng đội, mà đã trở thành một "lá chắn" vững chắc, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngay tại địa bàn trọng điểm. Không quản ngại khó khăn, ông cùng các hội viên luôn trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề "nóng", từ vận động giải tán khiếu kiện đông người đến giữ gìn an ninh trật tự và phòng cháy chữa cháy, cố gắng gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào địa phương.
Thứ nhất là phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ nhiệt tình, tâm huyết, có uy tín. Thứ hai là khơi dậy sự vinh dự, tự hào gương mẫu của Hội viên Cựu chiến binh Việt Nam. Và thứ ba là quan tâm đến lợi ích chính đáng, đời sống của hội viên, vận động hội viên tích cực giúp đỡ nhau đúng như lời thề danh dự: đoàn kết giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận.
Để có được những thành quả ấy, ông cùng đồng đội đã kiên trì thực hiện 3 ưu tiên lớn
Nhìn những tấm Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng nhì, hạng Ba của tập thể Hội, tôi hiểu rằng đó là kết tinh từ cái tâm và cái tầm của người thủ lĩnh biết lắng nghe và thấu hiểu. Đồng chí Châu vẫn vẹn nguyên phong thái của người chiến sĩ đặc công năm nào: âm thầm, quyết liệt và luôn sẵn sàng dấn thân vì bình yên của nhân dân.

Đồng chí Nguyễn Xuân Lưu tặng Bằng khen cho các đồng chí nghỉ công tác Hội có thành tích xuất sắc trong đóng góp xây dựng Hội CCB thành phố Hà Nội,

Một số thành tích nổi trội trong công tác Hội mà đồng chí Châu cùng tập thể đã đạt được.

Trận địa của ông cùng các đồng đội giữa thời bình không chỉ dừng lại ở những cuộc đấu tranh tư tưởng sắc bén nhằm bảo vệ Đảng và chính quyền, mà còn là cuộc hành trình bền bỉ đi tìm lại những "nhịp cầu" nối quá khứ với hiện tại.
Ông bồi hồi kể cho tôi nghe về những lần nhóm cựu chiến binh ngược ngàn lên Sa Thầy (Kon Tum). Tại mảnh đất đại ngàn ấy, vào năm 1968, một đơn vị lính trẻ Hà Nội vừa hành quân vào Nam đã có cuộc đụng độ nảy lửa với một tiểu đoàn Mỹ. Trận chiến thắng lợi vang dội, nhưng máu xương của những chàng trai mười tám đôi mươi đã hòa vào đất mẹ, nằm lại trong những ngôi mộ tập thể suốt hàng chục năm ròng.
Bằng sự kiên trì tự thân và không có bất kỳ nguồn tài trợ nào, Hội Cựu chiến binh đã bền bỉ đi tìm đồng đội. Chính cái duyên kỳ lạ khi kết nối được với những cựu binh Mỹ thông qua vốn ngoại ngữ của thế hệ trẻ đã giúp họ tìm thấy một nghĩa trang tập thể giữa rừng sâu. Đó không chỉ là sự "cứu chuộc" ký ức, mà còn là lý do giải thưởng "Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội" được xướng lên để vinh danh những người lính chưa bao giờ quên những người nằm xuống.

Thắm tình đồng chí cùng phong trào "xóa nhà dột nát", nâng cấp mái ấm cho anh em cựu chiến binh.
Song hành với hành trình tìm lại quá khứ là những nỗ lực hiện hữu nhằm chăm lo cho những người đang sống. Ông cùng Hội Cựu chiến binh vẫn miệt mài thực hiện các phong trào "xóa nhà dột nát", nâng cấp mái ấm cho anh em. Dù ở giữa trung tâm Thủ đô, ông vẫn không khỏi trăn trở khi còn gần một phần ba hội viên không có lương hưu, hằng ngày vẫn phải bươn chải giữa dòng đời. Chính từ niềm thấu cảm đó, sức mạnh đoàn kết đã được khơi dậy để quyên góp hàng tỷ đồng tặng bò sinh sản cho cựu binh Điện Biên hay cứu trợ đồng bào lũ lụt miền Trung. Những con số ấy là minh chứng sống động nhất cho lời thề danh dự: "Đoàn kết giúp đỡ nhau lúc thường cũng như lúc ra trận".

Khi đứng bên di tích xác máy bay B52 ở hồ Hữu Tiệp, ánh mắt ông rực sáng một niềm tự hào về vùng đất địa linh nhân kiệt. Với ông, mỗi vị khách quốc tế hay mỗi bạn trẻ khi đến đây không nên chỉ nghe qua trang sách, mà cần thấu hiểu được cái hồn cốt của một dân tộc đã bắn rơi "pháo đài bay" bằng trí tuệ và sự quả cảm vô song của con người Việt Nam.
Kết thúc cuộc trò chuyện, ông Châu nhìn tôi với một niềm tin cậy ấm áp. Ông bảo, cuộc đời đẹp nhất là tuổi "mười tám đôi mươi trời xanh biếc trên đầu".
Lịch sử là một dòng chảy vĩnh hằng. Thế hệ chúng tôi đã tạo ra dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ. Bây giờ, chúng tôi muốn truyền ngọn lửa ấy lại cho các cháu. Thế hệ trẻ sẽ là người tiếp tục thổi bùng lên nhiệt huyết để dân tộc trường tồn, Tổ quốc vững bền sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ vĩ đại.

Sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền thăm hỏi đồng chí Nguyễn Minh Châu. Tại đây, các em đã được Đại tá truyền cảm hứng để viết nên câu chuyện hào hùng về chân dung người lính trong dự án "Chuyện thời bình."
Rời khỏi căn phòng của ông, tôi vẫn nhớ mãi câu nói sau cùng của người chiến sĩ đặc công ấy: “Biết chết mà vẫn đi vào, đấy là anh hùng các cháu ạ.” Câu nói giản dị mà nặng tựa thái sơn, như lời nhắc nhở tôi về giá trị của hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những trái tim không biết sợ hãi trước họng súng quân thù. Ngọn lửa mà ông Châu và đồng đội đã giữ gìn, giờ đây đang âm thầm truyền sang đôi tay của thế hệ kế cận, đỏ rực và thiêng liêng.











