Nguy cơ gây loãng xương: Trường hợp nào cần chủ động đánh giá sức khỏe xương?
Nhận biết yếu tố nguy cơ và các trường hợp cần chủ động đánh giá sức khỏe xương sẽ giúp việc phòng ngừa loãng xương hiệu quả hơn.
Loãng xương nguy hiểm thế nào?
Theo PGS.TS.BS. Bùi Hải Bình, Viện Cơ Xương Khớp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai, xương là mô sống liên tục trải qua quá trình tiêu hủy và tái tạo. Loãng xương xảy ra khi tốc độ tạo xương mới không theo kịp tốc độ mất xương cũ, gây suy giảm mật độ khoáng xương và khối lượng xương hoặc cấu trúc và độ chắc khỏe của xương bị thay đổi.
Xương bị loãng trở nên yếu và giòn hơn, vì vậy những tác động hoặc chấn thương nhẹ vốn khó gây gãy xương ở người khỏe mạnh cũng có thể khiến người bệnh bị gãy xương.
Gãy xương do loãng xương có thể xảy ra ngay sau một cú ngã nhẹ, chẳng hạn ngã từ tư thế đứng. Ở người loãng xương nặng, ngay cả những tác động thường ngày như cúi người, nâng vật nặng hoặc ho cũng có thể gây gãy xương, dẫn đến đau đớn và hạn chế vận động.

PGS.TS.BS. Bùi Hải Bình, Viện Cơ Xương Khớp Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai
Không chỉ ảnh hưởng đến thể chất, gãy xương do loãng xương còn tác động đáng kể đến sức khỏe tinh thần. Người bệnh có thể phải chịu đau kéo dài, lo sợ tái gãy xương, hạn chế các hoạt động thường ngày và dần cảm thấy cô lập, bất lực, lo âu hoặc trầm cảm khi khả năng vận động suy giảm.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ loãng xương
Loãng xương có thể xảy ra ở cả nam giới và phụ nữ, nguy cơ tăng lên theo tuổi. Nhiều người có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ rõ ràng, nhưng cũng có trường hợp không xác định được yếu tố nguy cơ cụ thể. Trong đó, có những yếu tố không thể thay đổi và những yếu tố có thể kiểm soát thông qua lối sống và các biện pháp dự phòng phù hợp.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ loãng xương không thay đổi được:
Tuổi tác: Khi lớn tuổi, quá trình mất xương diễn ra nhanh hơn trong khi quá trình tạo xương mới lại chậm đi. Theo thời gian, xương có thể trở nên yếu hơn và nguy cơ loãng xương sẽ tăng lên.
Giới tính nữ: Phụ nữ có nguy cơ mắc loãng xương cao hơn nam giới do thường có khối lượng xương đỉnh thấp hơn và kích thước xương nhỏ hơn.
Tiền sử gia đình bị loãng xương: Nguy cơ loãng xương và gãy xương có thể tăng lên nếu cha hoặc mẹ của bạn từng bị loãng xương hoặc gãy xương hông.
Mãn kinh và cắt bỏ tử cung: Estrogencó tác dụng bảo vệ xương. Khi mãn kinh, phụ nữ bắt đầu mất xương với tốc độ nhanh hơn. Do đó, phụ nữ mãn kinh sớm (trước 45 tuổi) hoặc đã phẫu thuật cắt bỏ tử cung sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
Ngoài ra, yếu tố nguy cơ gây loãng xương không thay đổi được còn có thể xảy ra ở các trường hợp bị giảm chiều cao, từng bị gãy xương trước đó, thiếu hụt estrogen và vô kinh hay chủng tộc.

Loãng xương là tình trạng sức khoẻ âm thầm, do nhiều nguyên nhân gây ra.
Các yếu tố nguy cơ gây loãng xương có thể thay đổi:
Chế độ dinh dưỡng kém, lượng canxi trong chế độ ăn thấp: Theo TS.BS. Bùi Hải Bình, khi không cung cấp đủ canxi sẽ làm giảm khả năng hấp thu khoáng chất cấu tạo xương, gây nguy cơ loãng xương.
Lối sống và thói quen: Người có lối sống ít vận động có nguy cơ loãng xương cao hơn so với những người năng động. Ngoài ra, thói quen lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá làm giảm khả năng hấp thu canxi và cản trở quá trình tái tạo xương.
Bên cạnh đó, các yếu tố như thiếu vitamin D, người bị rối loạn ăn uống, người có chỉ số khối cơ thể thấp (BMI dưới hoặc bằng 19), thường xuyên bị ngã cũng gây nguy cơ loãng xương cao.
Ai nên thực hiện xét nghiệm mật độ khoáng xương?
Xét nghiệm mật độ khoáng xương (BMD) là công cụ quan trọng để đánh giá sức khỏe của xương và nguy cơ loãng xương. Khi mật độ xương càng cao thì xương càng chắc khỏe, ngược lại, khi mật độ xương giảm sẽ làm tăng nguy cơ loãng xương và gãy xương do chấn thương nhẹ hoặc thậm chí tự phát. Các trường hợp nên thực hiện xét nghiệm mật độ khoáng xương khi không có gãy xương nhưng có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ quan trọng sau:
Phụ nữ trên 65 tuổi, nam trên 70 tuổi.
Thể trạng nhỏ bé (BMI dưới hoặc bằng 19).
Sử dụng corticosteroid từ 3 tháng trở lên; mắc hội chứng Cushing.
Người bị thiểu năng sinh dục, mãn kinh sớm.
Người có tiền sử gia đình có gãy xương do chấn thương nhẹ sau tuổi 50.
Mắc các bệnh lý viêm mạn tính như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp…
Người mắc hội chứng kém hấp thu, bệnh gan, thận mạn tính…
Ngoài ra, người được chỉ định chụp Xquang xương khớp, cột sống khi khám bệnh nhưng có dấu hiệu gợi ý loãng xương cũng nên đo mật độ xương để xác định, từ đó có biện pháp phòng ngừa và điều trị từ sớm.
Ngoài ra, đối với các trường hợp bị gãy cổ xương đùi và những gãy xương khác sau chấn thương nhẹ do xương yếu hay có các triệu chứng đau lưng, giảm chiều cao, gù lưng thì nên đo mật độ xương để có biện pháp khắc phục phù hợp, tránh các hệ lụy đáng tiếc.
Loãng xương có thể gây gãy xương và ảnh hưởng sức khỏe tinh thần, nhưng có thể phát hiện sớm qua kiểm tra sức khỏe xương và phòng ngừa bằng dinh dưỡng, lối sống lành mạnh.


