Nguy cơ mắc nhồi máu cơ tim, đột quỵ ở người trưởng thành vùng Bắc Quảng Trị
Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để nhận diện nhóm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, xây dựng chương trình dự phòng phù hợp.
Ngày 19/10, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị cho biết, đơn vị vừa tổ chức họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cấp tỉnh kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ: "Dự báo nguy cơ mắc nhồi máu cơ tim và đột quỵ cho người trưởng thành ở tỉnh Quảng Bình cũ (nay là Quảng Trị) theo thang điểm ASCVD Risk Estimator Plus".

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị tổ chức họp Hội đồng đánh giá, nghiệm thu cấp tỉnh kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Ảnh: SKH&CNQT.
Nhiệm vụ do Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế chủ trì, GS.TS. Hoàng Anh Tiến làm chủ nhiệm. TS Đặng Ngọc Tuấn, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội đồng KH&CN tỉnh chủ trì hội nghị.
Tại hội nghị, đơn vị chủ trì của nhiệm vụ báo cáo kết quả khảo sát các yếu tố nguy cơ tim mạch ở người dân từ 40 đến 79 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (cũ). Các chuyên gia ứng dụng thang điểm ASCVD Risk Estimator Plus để dự báo nguy cơ mắc nhồi máu cơ tim và đột quỵ trong 10 năm tới tại khu vực này.

Đơn vị chủ trì của nhiệm vụ báo cáo kết quả khảo sát các yếu tố nguy cơ tim mạch ở người dân từ 40 đến 79 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (cũ). Ảnh: SKH&CNQT.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 37,4% đối tượng khảo sát thuộc nhóm nguy cơ thấp, 9,8% thuộc nhóm nguy cơ ranh giới, 31,5% thuộc nhóm nguy cơ trung bình và 21,3% thuộc nhóm nguy cơ cao. Nam giới có xu hướng đối mặt với nguy cơ tim mạch cao hơn nữ giới. Các yếu tố như nghề nghiệp, tình trạng béo phì và sử dụng rượu bia có mối liên quan với nguy cơ mắc các biến cố tim mạch.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dự phòng, chú trọng phát hiện sớm nhóm nguy cơ cao, tăng cường sàng lọc, quản lý sức khỏe và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch.
Hội đồng khoa học và công nghệ đánh giá kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học để ngành y tế nhận diện nhóm nguy cơ, xây dựng các chương trình dự phòng phù hợp, nâng cao hiệu quả phòng, chống bệnh không lây nhiễm và giảm gánh nặng bệnh tim mạch trong thời gian tới.



