Nguyên tắc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra

Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.

Bảo đảm khách quan, công bằng và công khai

Luật sư Đinh Thị Nguyên, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho biết, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, sử dụng đúng mục đích và phát huy tối đa các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 267/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các hình thức xử lý kỷ luật và trách nhiệm bồi thường đối với các hành vi gây lãng phí.

Việc ban hành Nghị định số 267/2026/NĐ-CP tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý về phòng, chống lãng phí, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, trách nhiệm và liêm chính. Qua đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần nâng cao ý thức trách nhiệm, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công và các nguồn lực được giao; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi gây lãng phí, góp phần xây dựng bộ máy hành chính hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định, việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra. Ảnh minh hoạ: Thanh Tuấn

Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định, việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra. Ảnh minh hoạ: Thanh Tuấn

Đáng chú ý, việc xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 9 Nghị định số 267/2026/NĐ-CP.

Theo đó, thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Nghị định này là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền theo một trong các cách xác định giá trị thiệt hại quy định tại Nghị định này hoặc quy định pháp luật có liên quan, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Thiệt hại phải được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Việc xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế gây ra, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ bồi thường để quyết định mức và phương thức bồi thường thiệt hại; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.

Trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người có hành vi vi phạm, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm. Trường hợp không có căn cứ xác định được mức độ trách nhiệm và vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều cho từng người.

Việc xác định giá trị thiệt hại trong các vụ án hình sự thực hiện theo quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và các quy định pháp luật có liên quan.

Trường hợp pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật chuyên ngành trong từng lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí có quy định về phương pháp xác định giá trị thiệt hại hoặc biện pháp khắc phục hậu quả có tính chất tương tự thì cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán căn cứ quy định pháp luật đó để xác định giá trị thiệt hại khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại có quyền giải trình

Điều 23 Nghị định số 267/2026/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp thiệt hại do cán bộ, công chức, viên chức gây ra được thực hiện đồng thời khi thực hiện trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Quyết định xử lý kỷ luật phải thể hiện rõ căn cứ xác định thiệt hại, mức độ lỗi, phạm vi trách nhiệm, số tiền bồi thường, thời hạn và phương thức thực hiện bồi thường.

Trường hợp người vi phạm được loại trừ, miễn trách nhiệm kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật thì người có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên cơ sở hồ sơ, tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, lỗi của người vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại.

Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan và đề nghị xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước khi người có thẩm quyền quyết định.

Đối với các trường hợp không thuộc khoản 1 Điều này hoặc pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt phải được thể hiện tại kết luận, quyết định xử lý của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, cơ quan điều tra theo quy định pháp luật có liên quan.

Chuyên gia pháp lý cho biết, thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại đối với trường hợp hành vi gây lãng phí bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính hoặc theo biện pháp xử lý của pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật khác có liên quan.

Trường hợp hành vi gây lãng phí không thuộc trường hợp xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức là cấp có thẩm quyền ra quyết định về bồi thường thiệt hại.

Người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phải thực hiện bồi thường một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định về bồi thường thiệt hại trừ trường hợp được áp dụng nộp tiền bồi thường nhiều lần khi đủ các điều kiện theo quy định.

Thời hạn nộp tiền bồi thường thiệt hại nhiều lần không quá 12 tháng, kể từ ngày quyết định bồi thường thiệt hại có hiệu lực. Trường hợp người có nghĩa vụ bồi thường thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đang điều trị bệnh hiểm nghèo, gia đình gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế hoặc trường hợp đặc biệt khác thì người có thẩm quyền ra quyết định bồi thường thiệt hại xem xét cho nộp nhiều lần trong thời hạn không quá 24 tháng.

Hết thời hạn nộp tiền bồi thường của từng lần mà người có nghĩa vụ bồi thường không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thì phải trừ 20% tiền lương thực trả hàng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật có liên quan cho đến khi bồi thường đủ theo quyết định của người có thẩm quyền.

Quốc Doanh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/nguyen-tac-xac-dinh-thiet-hai-va-boi-thuong-thiet-hai-do-hanh-vi-gay-lang-phi-gay-ra-1216082.html