Nhà báo khởi xướng phong trào chống quấy rối tình dục
Năm 1975, nhà báo Lin Farley đã đặt ra thuật ngữ “quấy rối tình dục”, góp phần phá vỡ tình trạng “quen quá hóa nhàm” với những hành vi ép buộc tình dục phụ nữ.

Tác giả: Dan Heath / NXB Trẻ
Tư duy đầu nguồn
Tác phẩm đi sâu vào những rào cản tâm lý kéo chúng ta về phía cuối nguồn, điển hình là trạng thái “quen quá hóa nhàm” khiến ta dần xem những vấn đề nghiêm trọng như một phần tất yếu của cuộc sống. Trong cuốn sách này, độc giả sẽ gặp gỡ những con người đã vượt qua rào cản ấy và tạo nên những thay đổi lớn bằng cách chuyển sang tư duy đầu nguồn.
Nhà báo khởi xướng phong trào chống quấy rối tình dục
Năm 1975, nhà báo Lin Farley đã đặt ra thuật ngữ “quấy rối tình dục”, góp phần phá vỡ tình trạng “quen quá hóa nhàm” với những hành vi ép buộc tình dục phụ nữ.
Vào những năm 1960 và 1970, quấy rối tình dục tại nơi làm việc từng bị bình thường hóa đến mức phụ nữ thậm chí còn được khuyến khích coi đó là điều hiển nhiên.
Helen Gurley Brown, tổng biên tập lâu năm của tạp chí Cosmopolitan, đã viết trong cuốn sách Sex and the Office (Tạm dịch: Tình dục nơi công sở) xuất bản năm 1964 như sau: “Một người đàn ông đã có gia đình thường thích vây quanh mình là những người phụ nữ hấp dẫn, biết chiều lòng, những người mà anh ta có thể xem họ là đối tượng tình dục hoặc không. (Đừng có thuyết phục tôi rằng không phải như vậy!).
Anh ta có thể không có ý định săn đuổi bạn cho bộ sưu tập chiến tích của mình, mà chỉ cố gắng thăm dò xem thái độ của bạn với đàn ông là như thế nào.
Một cô nàng đứng đắn thái quá, thà chết còn hơn dính dáng tới điều cô ấy cho là tội lỗi, có thể làm hỏng niềm vui trong công việc của một người đàn ông. Một nữ giám đốc điều hành hấp dẫn, làm trong ngành dệt may, từng nói rằng: ‘Tôi thà để một người đàn ông tán tỉnh mình một cách vô hại còn hơn là bị anh ta vùi dập trong công việc’”. Đây là một câu trích dẫn có thật. Nghe như cô ấy mắc phải hội chứng Stockholm trong vấn đề quấy rối tình dục vậy.
Một nghiên cứu năm 1960 của Hiệp hội Quản lý Văn phòng Quốc gia cho thấy 30% trong số 2.000 công ty được khảo sát thừa nhận rằng họ đã “cân nhắc nghiêm túc” đến yếu tố hấp dẫn về mặt giới tính khi tuyển dụng nhân viên lễ tân, tổng đài viên và thư ký.

Lin Farley đã xác định lại sự ép buộc về tình dục đối với phụ nữ là một điều bất bình thường bằng cách đặt tên cho nó. Ảnh: NM PBS.
Thuật ngữ quấy rối tình dục được nhà báo Lin Farley đặt ra vào năm 1975, khi đó bà đang giảng dạy một khóa học về phụ nữ và công việc tại Đại học Cornell. Bà đã mời các nữ sinh tới tham gia một buổi thảo luận “nâng cao nhận thức” và hỏi về trải nghiệm của họ tại nơi làm việc.
“Tất cả những cô gái trẻ tham gia buổi thảo luận đều đã từng bị buộc phải nghỉ việc hoặc bị sa thải vì đã từ chối những lời gạ gẫm tình dục từ cấp trên”, bà chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn năm 2017 với người dẫn chương trình On the Media, Brooke Gladstone.
Farley đã tìm kiếm một cách có chủ đích một thuật ngữ - một nhãn dán - có thể bao quát hết được những trải nghiệm chung mà họ phải trải qua, và bà đã quyết định chọn từ quấy rối tình dục.
Sau này, bà viết trên tờ New York Times: “Những người phụ nữ công sở ngay lập tức sử dụng cụm từ này, vì nó đã mô tả chính xác sự ép buộc về tình dục mà họ phải chịu đựng hàng ngày. Họ không còn phải giải thích với bạn bè và gia đình rằng ‘anh ta cứ tán tỉnh tôi và không chấp nhận câu trả lời không, vì vậy tôi buộc phải nghỉ việc’. Những gì anh ta làm giờ đây đã có tên gọi riêng”.
Ở trên, chúng ta đã nói về cách mà sự thích nghi có thể giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi bằng cách bình thường hóa nỗi sợ của họ. Nhưng những gì Lin đã làm, với thuật ngữ quấy rối tình dục, thì hoàn toàn ngược lại: Bà muốn nghiêm túc nhìn nhận một vấn đề nghiêm trọng nhưng vẫn bị xem là bình thường.
Bằng cách xác định lại sự ép buộc về tình dục đối với phụ nữ là một điều bất bình thường - gán cho nó một sự kỳ thị - bà đã giúp xã hội thức tỉnh khỏi tình trạng “quen quá hóa nhàm” bằng cách đặt tên cho vấn đề đó.
Nguồn Znews: https://znews.vn/nha-bao-khoi-xuong-phong-trao-chong-quay-roi-tinh-duc-post1680597.html
