Nhà nước giữ gì, nhường gì tại loạt doanh nghiệp lớn?
Nhà nước sẽ giữ quyền chi phối ở đâu, nhường bớt vốn tại những doanh nghiệp nào? Quyết định 2054/QĐ-TTg xác định tỷ lệ sở hữu Nhà nước đến năm 2030 tại 21 doanh nghiệp lớn, trong đó có 3 ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu, với nguyên tắc giữ quyền quyết định ở lĩnh vực then chốt và mở dư địa cho thị trường tham gia phần vốn vượt ngưỡng.
Ngày 27/10/2026, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 2054/QĐ-TTg, phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp giai đoạn 2026–2030. Quyết định có hiệu lực ngay từ ngày ký, áp dụng đối với các doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 5 Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg.
Trong số 21 doanh nghiệp thuộc kế hoạch, 15 đơn vị tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn Nhà nước, còn 6 đơn vị phải thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại trước năm 2030. Nhóm thứ hai gồm BIDV, Vietcombank, VietinBank, Vietnam Airlines, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG).

BIDV, Vietcombank có dư địa tăng vốn, VietinBank phải nâng tỷ lệ sở hữu Nhà nước
Đáng chú ý, không phải doanh nghiệp nào cũng giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước. Một số đơn vị có thể bán bớt vốn, trong khi những trường hợp khác phải tăng tỷ lệ nắm giữ để đáp ứng ngưỡng quy định.
Vì sao Nhà nước chọn ngưỡng 65%?
Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 5/8/2026, phân chia doanh nghiệp có vốn Nhà nước thành 3 nhóm sở hữu.
Nhóm Nhà nước giữ 100% vốn tập trung vào dịch vụ công ích thiết yếu, độc quyền tự nhiên, năng lượng, lương thực, khoáng sản chiến lược, hạ tầng số và Agribank.
Theo Quyết định 2054, các doanh nghiệp tiếp tục duy trì 100% vốn Nhà nước gồm Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR), Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Agribank.
Với các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, Nhà nước giữ nguyên tỷ lệ sở hữu tại Petrolimex (75,87%), Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (95,4%), Tập đoàn Bảo Việt (67,98%), Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam (51%) và Tổng công ty Lương thực miền Nam (51,43%).
Nhóm thứ hai yêu cầu Nhà nước nắm từ 65% vốn trở lên, áp dụng với các lĩnh vực như khai thác cảng hàng không và vận chuyển hàng không, quản lý bến cảng tại cảng biển đặc biệt, tài chính - ngân hàng (trừ bảo hiểm, chứng khoán, cho thuê tài chính và Agribank), phân bón, cơ khí chế tạo, cấp thoát nước.
Nhóm còn lại có tỷ lệ sở hữu trên 50% đến dưới 65%, gồm đầu mối nhập khẩu xăng dầu có thị phần từ 30% trở lên, viễn thông có hạ tầng quan trọng và hoạt động thăm dò khoáng sản. Với doanh nghiệp ngoài danh mục, Nhà nước không tiếp tục nắm giữ vốn, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác.
Ngưỡng 65% gắn với quyền biểu quyết tại doanh nghiệp. Theo khoản 1 Điều 148 Luật Doanh nghiệp 2020, nếu điều lệ công ty không quy định tỷ lệ khác, các nghị quyết quan trọng của đại hội đồng cổ đông cần được ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của cổ đông dự họp tán thành.
Những quyết định này bao gồm thay đổi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh; điều chỉnh cơ cấu quản lý; đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị từ 35% tổng tài sản trở lên; tổ chức lại hay giải thể doanh nghiệp.
Vì vậy, khi nắm ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, Nhà nước có thể chủ động thông qua các nghị quyết thuộc nhóm này mà không cần sở hữu toàn bộ doanh nghiệp, với điều kiện áp dụng đúng quy định về biểu quyết và điều lệ công ty.
Trong nhóm phải cơ cấu lại, VIMC dự kiến giảm tỷ lệ vốn Nhà nước từ 99,469% xuống 65% vào năm 2030. Tại VRG, tỷ lệ này giảm từ 96,77% xuống 75%.
Tương ứng, phần vốn Nhà nước cần giảm tại VIMC khoảng 34,5 điểm phần trăm, còn tại VRG khoảng 21,8 điểm phần trăm. Đây có thể trở thành nguồn cổ phần đáng chú ý đối với nhà đầu tư nếu các phương án bán vốn được triển khai.
Theo Phụ lục II Quyết định 2054, Nhà nước duy trì tỷ lệ sở hữu từ 65% tại VIMC, trong khi VRG được xác định mức 75% sau cơ cấu lại nhưng không ghi rõ khung tỷ lệ. Cả 6 doanh nghiệp trong phụ lục thực hiện theo điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định 40/2026/QĐ-TTg.
Đáng chú ý, tỷ lệ vốn Nhà nước tại Vietnam Airlines được ghi tăng từ 39,29% lên 86,42%. Tuy nhiên, 39,29% là phần Bộ Tài chính trực tiếp nắm giữ, còn SCIC sở hữu thêm 47,13%. Tổng cộng, khu vực Nhà nước hiện đã nắm 86,42% vốn hãng bay.
Do đó, mức 86,42% sau cơ cấu lại có thể liên quan đến việc chuyển phần vốn SCIC về cơ quan đại diện chủ sở hữu, thay vì góp thêm vốn mới. Tuy nhiên, Quyết định 2054 chưa công bố phương án thực hiện cụ thể.
Bài toán vốn ngân hàng và nguồn hàng mới cho thị trường
3 ngân hàng thương mại cổ phần có vốn Nhà nước trong danh sách được điều chỉnh theo hai hướng khác nhau.
Tại BIDV, Nhà nước đang nắm 76,73% vốn; tại Vietcombank là 74,8%. Quyết định 2054 yêu cầu hai ngân hàng duy trì tỷ lệ từ 65% trở lên đến năm 2030, chứ không bắt buộc phải giảm ngay về mức này.
Tuy nhiên, khoảng chênh lệch 11,7 điểm phần trăm tại BIDV và 9,8 điểm phần trăm tại Vietcombank cho thấy dư địa phát hành thêm cổ phần để tăng vốn mà vẫn bảo đảm Nhà nước nắm quyền chi phối.
Việc tăng vốn có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động ngân hàng, bởi vốn tự có là cơ sở để đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và mở rộng tín dụng.
Dù vậy, dư địa giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước không đồng nghĩa toàn bộ phần vốn đó có thể bán cho nhà đầu tư nước ngoài. Tổng tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại một ngân hàng thương mại Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ. Khả năng thu hút thêm nhà đầu tư chiến lược vì thế còn phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu nước ngoài hiện hữu tại từng ngân hàng.
VietinBank lại phải xử lý bài toán ngược lại. Nhà nước hiện nắm 64,46% vốn, thấp hơn ngưỡng tối thiểu 65% đối với lĩnh vực ngân hàng. Theo kế hoạch, tỷ lệ này phải được nâng lên 65% vào năm 2030.
Mức chênh lệch là 0,54 điểm phần trăm, tương đương khoảng 41,7 triệu cổ phiếu, trị giá hơn 1.350 tỷ đồng nếu tính theo giá đóng cửa ngày 7/8/2026.
So với vốn điều lệ 77.669 tỷ đồng của VietinBank, phần chênh lệch không quá lớn. Vấn đề là Quyết định 2054 chưa xác định phương án nâng tỷ lệ sở hữu.
Việc điều chỉnh cũng phải tính đến cơ cấu cổ đông hiện tại, trong đó cổ đông chiến lược MUFG của Nhật Bản đang nắm khoảng 15,8% vốn, cùng các cổ đông thiểu số khác.
Việc xác định tỷ lệ sở hữu mục tiêu mới chỉ là bước đầu. Để hoàn thành kế hoạch, các cơ quan đại diện chủ sở hữu còn phải lựa chọn thời điểm, phương thức giao dịch và xác định giá trị phần vốn bán ra.
Đây chính là những khâu từng khiến tiến độ cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn trước không đạt kế hoạch.
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2021–2025, cả 30 doanh nghiệp được phê duyệt cổ phần hóa đều chưa hoàn thành theo kế hoạch. Trong 146 doanh nghiệp thuộc diện thoái vốn, chỉ 19 đơn vị hoàn thành, tương đương 13%; đáng chú ý, 102 trong số 127 doanh nghiệp còn lại chưa xác định được giá trị để bán. Việc định giá, nhất là tại các doanh nghiệp có quỹ đất lớn, tiếp tục là điểm nghẽn trong quá trình thoái vốn.
Để khắc phục, Quyết định 2054 giao Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước chủ động lựa chọn thời điểm, hình thức cơ cấu lại. Trường hợp gặp khó khăn khách quan hoặc điều kiện thị trường bất lợi phải báo cáo Thủ tướng xem xét, quyết định bằng văn bản. Nếu không bảo đảm tỷ lệ sở hữu hoặc chậm tiến độ giai đoạn 2026–2030, phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân liên quan để xử lý theo quy định. Tiến độ thực hiện được báo cáo về Bộ Tài chính trước ngày 31/1 hằng năm.
Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/nha-nuoc-giu-gi-nhuong-gi-tai-loat-doanh-nghiep-lon.html
