Nhà tái chế dệt may trước cơ hội và thách thức từ tiêu chuẩn mới

Cùng một tấn chai nhựa hay vải vụn, nhưng có nhà tái chế bán được sản phẩm vào chuỗi cung ứng của các nhãn hàng dệt may quốc tế, trong khi doanh nghiệp khác chỉ có thể bán với giá thấp, dù đôi khi sử dụng hệ thống máy móc và nguồn thu mua tương tự…

Vật liệu tái chế ngày càng có vai trò đáng kể đối với ngành dệt may. Ảnh: MOIT.

Vật liệu tái chế ngày càng có vai trò đáng kể đối với ngành dệt may. Ảnh: MOIT.

Chia sẻ về vai trò của nhà tái chế tại hội thảo: "Dệt may hướng đến tương lai: Đổi mới tuần hoàn để tiếp cận thị trường toàn cầu" diễn ra mới đây, chuyên gia Đinh Quốc Duy đến từ Audit Manager IDFL Việt Nam, cho rằng điều làm nên sự khác biệt nằm ở khả năng chứng minh nguồn gốc vật liệu và mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn mà khách hàng yêu cầu. Yêu cầu về sản xuất, tiêu dùng bền vững của nhãn hàng quốc tế đòi hỏi phải minh bạch từ hồ sơ, xuất xứ nguyên liệu tái chế.

NHÀ TÁI CHẾ PHẢI CHỨNG MINH NGUỒN GỐC VẬT LIỆU

Những yêu cầu này xuất hiện trong bối cảnh vật liệu tái chế ngày càng có vai trò đáng kể đối với ngành dệt may. Dẫn số liệu của Textile Exchange (Tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu thúc đẩy tác động tích cực đến biến đổi khí hậu trong ngành thời trang và dệt may), ông Duy cho biết xơ sợi có nguồn gốc tái chế chiếm 7,6% tổng sản lượng xơ sợi toàn cầu. Tỷ lệ này tương đương cứ 13 kg xơ sợi được sản xuất thì có khoảng 1 kg đến từ nguyên liệu tái chế.

Đáng chú ý, trong lượng polyester tái chế, 97% có nguồn gốc từ chai nhựa. Ngoài polyester, các vật liệu như nilon, len, bông, lông vũ, sợi da và bao bì cũng nằm trong phạm vi các hoạt động tái chế và chứng nhận của ngành.

Danh sách công khai của Textile Exchange có khoảng 230 nhà tái chế được chứng nhận, trong đó GRS (Global Recycled Standard) và RCS (Recycled Claim Standard) là hai tiêu chuẩn tái chế đang được sử dụng. Số liệu thu thập từ Ngân hàng Phát triển Châu Á, cho biết hơn một nửa lượng PET tái chế tại Việt Nam được bán vào chuỗi cung ứng xơ sợi của ngành dệt may.

Về nhu cầu thị trường, theo báo cáo của Textile Exchange, mức nhu cầu chung của thế giới đối với xơ sợi polyester tái chế là 11,8%, trong khi nhu cầu từ các nhãn hàng đối với xơ sợi tái chế sử dụng trong sản phẩm của họ chiếm 76%. “Nhãn hàng không chỉ tìm mua vật liệu được giới thiệu là tái chế, mà còn yêu cầu nhà cung cấp chứng minh tuyên bố đó thông qua hồ sơ, đơn hàng và chứng nhận phù hợp” ông Duy lưu ý.

Yêu cầu chứng minh ngày càng quan trọng khi doanh nghiệp phải đáp ứng cả tiêu chuẩn của khách hàng lẫn quy định pháp luật tại những thị trường xuất khẩu về sản suất bền vững. Trong đó, ba nhóm quy định có liên quan trực tiếp đến hoạt động tái chế và chuỗi cung ứng mà doanh nghiệp phải đáp ứng.

Thứ nhất: Quy định của EU về bao bì. Theo đó, từ năm 2030, bao bì nhựa bán tại EU phải đáp ứng tỷ lệ tái chế tối thiểu; riêng chai đồ uống có mức tỷ lệ là 30%.

Thứ hai: Quy định chống “tẩy xanh” của EU. Từ ngày 27/9/2026 các nhãn bền vững trên bao bì sản phẩm bán vào thị trường này cần dựa trên một tiêu chuẩn chứng nhận.

Thứ ba: Nghị định 110/2026/NĐ-CP của Việt Nam về trách nhiệm tái chế cũng yêu cầu doanh nghiệp trong nước cần xác minh nguồn gốc vật liệu tái chế từ nhà cung cấp.

Từ kinh nghiệm trực tiếp tham gia đánh giá các nhà máy, trong đó có nhà tái chế, ông Duy cho biết Đánh giá viên còn phải rà soát hồ sơ, phỏng vấn nhân sự, kiểm tra hiện trường, đối chiếu phiếu cân, mã đơn hàng và xem xét toàn bộ quy trình sản xuất. Mục tiêu là xác định những thông tin doanh nghiệp khai báo có phù hợp với hoạt động thực tế hay không.

HAI KỊCH BẢN CHUYỂN ĐỔI CHO NHÀ TÁI CHẾ

Cùng với sự thay đổi về yêu cầu của thị trường và pháp luật, Textile Exchange đã ban hành Materials Matter Standard (MMS), tiêu chuẩn mới thay thế GRS và RCS, đồng thời mở rộng phạm vi sang một số vật liệu khác.

Ông Đinh Quốc Duy: "Khi có hệ thống hồ sơ minh bạch rõ ràng về xuất xứ nguyên liệu doanh nghiệp tái chế có thể bán đúng giá trị thay vì cạnh tranh bằng giá”. Ảnh: Nguyệt Hà.

Ông Đinh Quốc Duy: "Khi có hệ thống hồ sơ minh bạch rõ ràng về xuất xứ nguyên liệu doanh nghiệp tái chế có thể bán đúng giá trị thay vì cạnh tranh bằng giá”. Ảnh: Nguyệt Hà.

Ông Duy cho biết theo lộ trình, MMS bắt đầu có hiệu lực từ ngày 31/12/2026. Đến ngày 31/12/2027, các tổ chức chứng nhận sẽ không còn đánh giá chứng nhận GRS hoặc RCS mà chuyển sang đánh giá theo MMS. Năm 2027 là giai đoạn chuyển đổi, các lô hàng tồn dư theo chuẩn GRS và RCS có thể được bán đến năm 2029.

Với nhà tái chế đang sở hữu chứng nhận hoặc có kế hoạch tham gia hệ thống chứng nhận quốc tế, đây là thời điểm cần rà soát lại quy trình quản lý và chuẩn bị chuyển đổi, thay vì chờ đến khi khách hàng đưa ra yêu cầu cụ thể.

Nhà tái chế là đơn vị xử lý đầu tiên trong chuỗi cung ứng vật liệu tái chế. Doanh nghiệp thu mua phế liệu, xử lý thành nguyên liệu rồi cung cấp cho các tầng tiếp theo của chuỗi dệt may, gồm Tier 3, Tier 2 và Tier 1. Vì giữ vị trí đầu chuỗi, nhà tái chế phải chứng minh được đầu vào trước khi có thể bảo đảm tính minh bạch cho các công đoạn phía sau.

"Hồ sơ cần thể hiện rõ vật liệu được mua từ đâu, có giấy tờ gì, thuộc loại nào và khối lượng mỗi lần nhập là bao nhiêu. Những dữ liệu này phải được đối chiếu với hoạt động sản xuất và giao dịch thực tế, thay vì chỉ tồn tại dưới dạng khai báo trên giấy", ông Duy nhấn mạnh.

Ở đầu ra, hồ sơ cần giúp xác định vật liệu được giao cho đơn vị nào, thuộc loại vật liệu gì, được tái chế bằng phương pháp nào và tỷ lệ tái chế ra sao. Các thông tin liên quan được sử dụng trong quy trình chứng nhận giao dịch, tạo cơ sở để truy xuất vật liệu xuyên suốt chuỗi cung ứng.

Khi chuyển sang MMS, nhà tái chế không chỉ tập trung vào nguồn gốc vật liệu, mà còn phải nâng cấp hệ thống quản lý về trách nhiệm xã hội, môi trường và hóa chất sử dụng.

Từ kinh nghiệm thực tế đánh giá nhà máy, ông Duy nêu hai kịch bản chuyển đổi mà doanh nghiệp cần cân nhắc.

Kịch bản thứ nhất: Nhà tái chế chỉ bắt đầu chuẩn bị khi khách hàng yêu cầu vật liệu đáp ứng MMS. Nếu hệ thống chưa được nâng cấp, hồ sơ chưa hoàn thiện hoặc doanh nghiệp mới có chứng nhận RCS, quá trình chuyển đổi và đánh giá có thể khiến tiến độ cung ứng bị chậm lại.

Kịch bản thứ hai: Doanh nghiệp chủ động chuẩn bị trước, xây dựng hệ thống quản lý và sẵn sàng cho quá trình đánh giá. Khi khách hàng chuyển sang yêu cầu MMS, nhà cung cấp có thể phản hồi nhanh hơn, giảm nguy cơ bỏ lỡ đơn hàng do chưa đáp ứng điều kiện chứng nhận.

“Câu hỏi đặt ra là khi khách hàng chuyển đổi, doanh nghiệp của anh/chị đã sẵn sàng ở mức độ nào?”, ông Duy nêu vấn đề; đồng thời cho rằng giai đoạn từ nay đến cuối năm 2027 không nên được hiểu đơn thuần là thời gian chờ đến hạn bắt buộc. Việc xây dựng hệ thống, hoàn thiện hồ sơ và trải qua chu kỳ đánh giá chứng nhận cần thời gian. Nếu doanh nghiệp chỉ bắt đầu khi thời hạn đã cận kề, nguy cơ không kịp hoàn thành hoặc không đạt yêu cầu đánh giá sẽ tăng lên.

Để chuẩn bị, ông Duy khuyến nghị doanh nghiệp thực hiện hai việc. Trước hết, cần bổ nhiệm người phụ trách tiêu chuẩn, chịu trách nhiệm xây dựng và duy trì hệ thống quản lý. Việc phân công đầu mối rõ ràng giúp doanh nghiệp kiểm soát hồ sơ, theo dõi yêu cầu đánh giá và phối hợp giữa các bộ phận liên quan.

Tiếp đó, doanh nghiệp cần đầu tư vào hệ thống và xác định thời điểm chuyển đổi phù hợp. Công việc này bao gồm rà soát nguồn cung đầu vào, chuẩn hóa hồ sơ giao dịch, kiểm tra khả năng truy xuất theo từng lô hàng và đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu về môi trường, hóa chất, lao động. Những nội dung chưa đáp ứng cần được xử lý trước khi bước vào quá trình đánh giá chính thức.

Bên cạnh chứng nhận, ông Duy cho biết các nhãn hàng thường quan tâm đến bốn nhóm yếu tố khi lựa chọn nhà cung cấp gồm: sự tin tưởng, được xây dựng trên cơ sở doanh nghiệp cung cấp đầy đủ bằng chứng và giấy tờ; khả năng truy xuất, thể hiện qua việc hồ sơ có khớp với từng lô hàng hay không; mức độ bảo vệ người lao động, tuân thủ yêu cầu môi trường và an toàn hóa chất, cùng khả năng khai báo đầy đủ thông tin và cuối cùng là năng lực giao hàng và chất lượng sản phẩm.

Với thông điệp “Recycle for all it's worth - Tái chế để tận dụng tối đa giá trị”, ông Duy khẳng định: “Khi có hệ thống hồ sơ minh bạch rõ ràng về xuất xứ nguyên liệu, doanh nghiệp tái chế có thể bán đúng giá trị thay vì cạnh tranh bằng giá”.

IDFL Việt Nam chiếm 47% số lượng đơn vị đánh giá chứng nhận GRS và RCS trong danh sách 230 nhà tái chế được đề cập. Đơn vị này cũng thực hiện đánh giá các chứng nhận khác trong chuỗi cung ứng dệt may, gồm Better Cotton, GOTS đối với vật liệu hữu cơ, các xác minh liên quan đến môi trường như Higg và hoạt động kiểm tra nguồn gốc bông.

Nguyệt Hà

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/nha-tai-che-det-may-truoc-co-hoi-va-thach-thuc-tu-tieu-chuan-moi.htm