Nhà văn Sơn Tùng – 'Thép đã tôi thế đấy'

Tôi xin mượn tên tác phẩm 'Thép đã tôi thế đấy' nổi tiếng của nhà văn NhicalaiAxtơrốpxki ( Nga) để gọi nhà văn Sơn Tùng như vậy. Tôi tin chắc rằng, nếu ai đã từng đọc tác phẩm đó, cũng sẽ đồng cảm với tôi: Sơn Tùng đã hóa thành nhân vật Pa Ven - Việt Nam giữa đời thường.

Ông đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, được Đảng trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Ông xứng đáng tấm gương sáng cho tuổi trẻ nhiều thế hệ học tập về bản lĩnh, nghị lực, phẩm chất, sự lao động miệt mài và lòng thủy chung son sắt với Đảng, với nhân dân, sự khát khao lý tưởng cách mạng.

Nhà văn Sơn Tùng, tên thật là Bùi Sơn Tùng (sinh ngày 8/8/1928 tại xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà nho nghèo, nhưng cả gia đình ông và dòng tộc ông đều nổi tiếng hiếu học.

Khi dòng thác cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ chảy cuồn cuộn đã ảnh hưỏng lớn đến nhà văn Sơn Tùng cũng như với hàng vạn thanh niên thời ấy. Từ năm mười tám tuổi, ông đã tạm biệt quê nhà đi kháng chiến. Ông bắt đầu tham gia làm tuyên truyền viên của phòng thông tin của ngành văn hóa tỉnh Nghệ An trong các phong trào kháng chiến sôi nổi, rầm rộ được diễn ra tại Liên Khu Bốn.

Với một thanh niên dũng cảm, hăng hái và tận tụy hết mình khi được cấp trên giao nhiệm vụ, nên Sơn Tùng đã sớm trưởng thành, năm 21 tuổi Sơn Tùng đã vinh dự đứng trong hàng ngũ Đảng. Sau đó, Sơn Tùng được đi học một lớp đào tạo ngắn hạn tại Trường Đại học Nhân dân (tiền thân Trường Tuyên huấn Trung ương) để trang bị thêm kiến thức lý luận chính trị.

 Nhà văn Sơn Tùng.

Nhà văn Sơn Tùng.

Vốn là người đã được thầy giáo làng “mớm chữ” cho từ nhỏ, cùng với sự đam mê học hỏi, lại được trang bị thêm “đôi mắt biện chứng” về thế giới quan và nhân sinh quan cộng sản, Sơn Tùng chẳng khác gì con thuyền đang dương buồm ra khơi, được gió lộng thổi vào. Sơn Tùng chẳng những có sẵn năng khiếu viết lách, ông còn “có duyên” nói chuyện tại các cuộc họp và các buổi diễn đàn. Nhờ vậy, những nội dung ông truyền tải có sức lan tỏa lớn trong công chúng.

Khi làm việc ở lĩnh vực tuyên huấn, Sơn Tùng là một cán bộ tuyên huấn xuất sắc. Năm 1962 Sơn Tùng rời địa hạt tuyên huấn, chuyển sang nhận nhiệm vụ mới, làm phóng viên Báo Tiền Phong (theo sở nguyện của bản thân và nhu cầu của tòa soạn). Tại đây, môi trường làm việc của ông khác hẳn với môi trường cũ, trước đây ông lo chuẩn bị đầy đủ nội dung, chủ đề để thuyết trình trước công chúng thì bây giờ ông và đồng nghiệp lại lo sổ tay, bút giấy, máy ảnh và mọi sinh hoạt cần thiết cá nhân, để có mặt ngay tại những “điểm nóng” và gửi về tòa soạn tin, bài, ảnh đăng báo.

Càng làm báo, Sơn Tùng càng dào cảm xúc, khi được tắm mình trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước đầy bi tráng của dân tộc. Trong trái tim nhà văn Sơn Tùng, thời khắc này luôn quan tâm đến vận mệnh của đất nước và luôn có niềm tin mãnh liệt ngày thắng lợi huy hoàng, ngày non sông thu về một mối. Niềm tin ấy đã giục giã ông như cánh chim không mỏi bay tới những vùng đất, vùng rừng xa xôi, những chiến hào trận địa còn khét mùi bom đạn.

Năm 1965, Sơn Tùng là đặc phái viên của Báo Tiền Phong, thường xuyên có mặt tại tuyến lửa khu Bốn, từ Cầu Hàm Rồng Thanh Hóa, đến Truông Bồn, Ngã ba Đồng Lộc, Quảng Bình, Quảng Trị. Từ những lò lửa thử thách này, “chất thép” trong con người Sơn Tùng “càng rắn, càng chắc, càng vững” hơn bao giờ hết.

Năm 1967, Sơn Tùng cùng một số đồng nghiệp trẻ của mình xung phong vào chiến trường miền Đông – Nam Bộ. Xuyên suốt cánh rừng đại ngàn hùng vĩ Trường Sơn, Sơn Tùng càng hiểu thêm sức mạnh của thời đại, từ những điều giản dị nhất trong cuộc sống đời thường. Những đôi mắt, những tấm lòng sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tươi rói trong ông tâm hồn ông hình ảnh bộ đội Trường Sơn, Thanh niên xung phong mở đường, đồng bào dân tộc Pa Kô, Vân Kiều đi gùi hàng, tải đạn.

Từ chiến trường gần đến chiến trường xa, ở đâu Sơn Tùng cũng nghiêm túc ghi chép từng sự kiện nóng hổi. Ông chịu khó lặn lội, phát hiện nhân tố điển hình và linh hoạt chuyển về cho tòa soạn những tin, bài sớm nhất. Hàng trăm bài báo mà Sơn Tùng viết nhiều dạng khác nhau: tin ngắn, tin tường thuật, ghi nhanh, phóng sự của Sơn Tùng gửi về đã được anh em trong biên tập đọc kỹ, giới thiệu kịp thời với bạn đọc cả nước và quốc tế. Thời ấy, Sơn Tùng nổi tiếng nhất trong tòa soạn báo Tiền Phong về “khỏe sức đi, khỏe sức đọc, khỏe sức viết”. Khi ông đã bắt đầu ngồi vào bàn làm việc là đắm say, miệt mài, nghiêm túc, tựa như “tằm bắt đầu nhả tơ ”.

Sơn Tùng là người có nhiều nét trội của tố chất xứ Nghệ, khảng khái mà chân thành, nghiêm túc mà gần gũi. Ông là người được nhiều người yêu mến bởi sự giàu hay nghèo, trí thức hay nông dân đều không có khoảng cách. Tôi nghĩ nhờ tố chất ấy đã làm nên một nhân cách nhà báo, nhà văn Sơn Tùng, một thi sĩ Sơn Tùng. Theo một người bạn thơ ở Hà Nội đã tiết lộ cho tôi biết, Sơn Tùng đã sáng tác hàng chục bài thơ, trong đó có một số bài đã được giới thiệu trên báo Trung ương và Báo Hà Nội mới.

Tôi còn nhớ vào một buổi chiều tháng 3 năm 1976, trong chương trình ca nhạc của Đài tiếng nói Việt Nam, giới thiệu bài hát mới “Chiếc nón bài thơ” nhạc của Cao Việt Hòa, phổ thơ Sơn Tùng, do Nghệ sĩ Kiều Hưng trình bày. Bài hát thấm đẫm tình yêu quê hương và con người xứ Nghệ, tràn đầy lạc quan trong không khí của đất nước hòa bình lại được sự truyền cảm bằng “giọng ca vàng”, nên cả đơn vị chúng tôi từ cán bộ tới chiến sĩ, rất yêu thích bài hát ấy. Thế rồi, không ít người đã dành thời gian ghi trọn được bài hát đó trong chương trình tập bài hát mới của đài, phổ biến nhanh cho “cánh lính” cùng nhau ôm vai, bá cổ hát. Nhiều người tập bài hát, tham gia dự thi văn nghệ quần chúng toàn quân khu Bốn.

Bài thơ ấy dường như đã được đăng trên Báo Thống Nhất, tôi chưa được đọc nhưng những lời thơ da diết qua nhạc, đến bây giờ vẫn còn gieo vào lòng tôi: “ Em gửi cho anh chiếc nón bài thơ xứ Nghệ /Mang hình bóng quê hương/ Dệt vào đây trăm mến ngàn thương/ Nón bài thơ / Em đội nón bài thơ đi đón ngày hội mới/ Nước non ta nay liền một dải/ Vẹn tròn như chiếc nón bài thơ.../ Ơ hơ... anh tặng em...”.

Tôi là một người mê thơ và yêu âm nhạc nên gặp những bài hát hay như thế cũng rất dễ mềm lòng. Nhưng tôi còn khâm phục hơn, ngưỡng mộ Sơn Tùng hơn ở sự nỗ lực phi thường để chiến thắng bệnh tật, thương tích trên người, ngưỡng mộ sức lao động và nghệ thuật sáng tạo của ông, qua các tác phẩm văn học.

Mệnh lệnh trái tim và nhiệm vụ vinh quang của người cầm bút, trở thành tiếng gọi thiêng liêng, luôn thúc giục lên đường ra trận. Vào một buổi sáng tháng 4/1971, Sơn Tùng đã luồn sâu vào căn cứ địa Tà Nốt ở chiến khu D (tỉnh Tây Ninh) để thu thập tin tức. Tại đây, ông đã bị một quả pháo địch kích, một mảnh pháo nhọn sắc đã xuyên qua đầu khiến Sơn Tùng ngất xỉu tại chỗ, với khuôn mặt và cuốn sổ tay đang ghi chép đỏ một màu máu tươi.

Trong làn đạn địch xối xả, một cán bộ khu D đã kịp thời cõng ông vào trạm phẫu thuật tiền phương cấp cứu. Sơn Tùng trở thành một thương binh nặng 1/4 từ đấy. Dầu bị tổn thất lớn về sức khỏe nhưng Sơn Tùng vẫn không bi quan chán nản, vẫn nuôi dưỡng sức viết trên chiếc bàn nhỏ, trong căn nhà chật chội ở khu tập thể Văn Chương ( Hà Nội) thân thương của mình.

 Nhà văn Sơn Tùng, tác giả của nhiều tác phẩm xuất sắc và thành công nhất về hình tượng Bác Hồ. Đồ họa TTXVN.

Nhà văn Sơn Tùng, tác giả của nhiều tác phẩm xuất sắc và thành công nhất về hình tượng Bác Hồ. Đồ họa TTXVN.

Từ năm 1974 trở đi, nghiệp văn của Sơn Tùng bắt đầu tỏa sáng và điều đặc biệt hơn nhiều nhà văn khác, Sơn Tùng đã dành trọn cả cuộc đời để sưu tầm, khám phá và xây dựng nhiều tác phẩm về lãnh tụ thiên tài Hồ Chí Minh. Trong 21 tác phẩm của ông đã in thành sách, có 13 tác phẩm viết về Bác Hồ với nhiều thể loại khác nhau. Đặc biệt là tác phẩm “ Búp sen xanh” tái bản hơn 30 lần và đã được dịch ra nhiều nước trên thế giới.

Cuốn sách này có “đề tựa” của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Chúng ta có một khẩu hiệu rất đúng, rất hay: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”. Đúng như vậy, Hồ Chủ Tịch sống mãi trong những tư tưởng và tình cảm lớn, trong toàn bộ hoạt động cách mạng của nhân dân Việt Nam ta, của mọi người chúng ta. Đồng thời Hồ Chủ Tịch cũng sống mãi trong những tác phẩm văn học nghệ thuật, có giá trị diễn tả cuộc đời đã trở thành lịch sử đẹp nhất, và vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam ta”.

Tôi nhớ những câu thơ Chế Lan Viên viết:

Ôi! giữa lòng ta Bác đến tự bao giờ
Bác vĩ đại chẳng làm ai kinh ngạc
Một buổi sáng nhìn lòng ta, ta thấy Bác
Nước mắt ràn ta cảm hết ơn sâu.

Nhưng nước mắt ràn chỉ bằng thơ thôi chưa đủ, bằng âm nhạc thôi chưa đủ, mà phải bằng cả tư liệu phong phú trong cuộc sống đời thường của Bác Hồ, trở thành biểu tượng đẹp của tác phẩm văn học, khi hàng triệu người đang cần, đang khao khát. Chính nhà văn Sơn Tùng đã trở thành người “tạc tượng bằng chữ” thành công nhất về lĩnh vực này với tiểu thuyết “Búp sen xanh”.

Tôi đã nhiều lần đọc tác phẩm “ Búp sen xanh” và lần nào cũng thấy bồi hồi xúc động. Bởi đằng sau những con chữ mộc mạc là tình yêu da diết gia đình, dòng họ, xóm làng của Bác Hồ thời thơ ấu. Lần giở từng trang trong tiểu thuyết này, thấy thú vị vì nhà văn Sơn Tùng đã “giải mã” được về vận nước, vận nhà và đời sống kinh tế xã hội của mảnh đất Kim Liên, nơi đầu tiên cậu bé Côn ( tên tự Nguyễn Tất Thành) ra đời.

Hiếm có một tiểu thuyết lại giống như một thiên truyện ký. Bằng lối dẫn chuyện hấp dẫn, khi những nhân vật chính thể đều là những nhân vật thật. Từ thân phụ Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu Hoàng Thị Loan, anh Khiêm, chị Thanh, hay cụ Hoàng Xuân Đường… đều được tái tạo những chi tiết sống động, qua biểu đạt ngôn ngữ và hình tượng, đầy ắp sự kiện giống như một nhà chép sử.

Sở dĩ tác phẩm “Búp sen xanh” được công chúng trân trọng nâng niu và đón nhận, bởi nhà văn Sơn Tùng đã dành nhiều thời gian dài tìm hiểu, ghi chép công phu, lại có một kiến thức tích lũy của mình về vốn sống lịch sử, vốn sống văn hóa vùng miền, vốn sống văn hóa dân tộc mới đạt được đỉnh cao ấy.

Nhắc đến cuộc đời chiến đấu và sự nghiệp văn chương của nhà văn Sơn Tùng, không thể không nhắc tới sự tận tụy hy sinh thầm lặng của bà Phan Thị Hồng Mai, nguyên là một nữ y tá cứu thương, người đã từng chăm sóc cho ông trong chiến tranh, sau này trở thành người vợ rất mực thủy chung, giúp ông chiến thắng bệnh tật hàng ngày. Bà Hồng Mai cũng giống như nhân vật chị Thai – A trong tác phẩm “ Thép đã tôi thế đấy” đã giúp Pa Ven hoàn thành cuốn tiểu thuyết “ Ra đời trong bão táp”.

Với nhà văn Sơn Tùng, sống được cống hiến là cuộc đời mới có ý nghĩa. Ông thường xuyên tâm niệm quan điểm sống của Pa Ven “ Cái quý nhất của con người là cuộc sống. Đời người chỉ sống có một lần, phải sống làm sao cho khỏi xót xa ân hận, bởi những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để đến khi nhắm mắt, xuôi tay ta có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho cách mạng, cho sự nghiệp đấu tranh và giải phóng loài người”.

Bây giờ nhà văn Sơn Tùng đã về cõi vĩnh hằng, ở suối vàng hẳn ông sẽ không “xót xa ân hận” bởi đã làm trọn những điều mình đã sống và hiến dâng cho cách mạng.

Phan Thế Cải

Nguồn CAND: https://cand.vn/nha-van-son-tung-thep-da-toi-the-day-post815894.html