Nhà yêu nước viết đạo kinh doanh cho người Việt

Ngày 13-10-1945, trong thư gửi giới công thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt niềm tin vào lực lượng công thương, mong muốn họ góp sức “xây dựng một nền kinh tế, tài chính vững vàng và thịnh vượng”.

Chân dung nhà yêu nước Lương Văn Can. Ảnh: TƯ LIỆU

Đến năm 2004, Thủ tướng Chính phủ quyết định lấy ngày 13-10 hàng năm là Ngày Doanh nhân Việt Nam. Đây là dịp ghi nhận và tôn vinh những đóng góp của giới doanh nhân trong công cuộc dựng xây đất nước phồn vinh, thịnh vượng.

Chấn hưng nghề buôn để làm mạnh nước nhà

Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam, nhìn lại hành trình hình thành văn hóa kinh doanh của người Việt, cũng là dịp nhắc nhớ đến một nhà yêu nước đã đặt nền móng cho đạo kinh doanh của giới doanh nhân Việt Nam ngày nay.

Trong lịch sử nước nhà đầu thời cận đại, nhà yêu nước Lương Văn Can (1854 - 1927) được biết đến là người khởi xướng, thủ lĩnh phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục thập niên đầu thế kỷ XX. Theo nghề giáo, ông mong “khai dân trí”, lo việc trồng người, lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục dạy theo lối mới, được tác phẩm “Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954)” (Trịnh Văn Thảo) nhận định là “thủ lĩnh phong trào duy tân Khổng giáo (Đông Kinh Nghĩa Thục)”.

Tượng cụ Lương Văn Can tại Tòa soạn Tạp chí Doanh nhân Sài Gòn trước đây. Ảnh: TRẦN ĐÌNH BA

Bên cạnh hoạt động cứu nước, cụ Lương Văn Can còn có nhiều gắn bó với việc kinh doanh, buôn bán. Là ông cử của nền Hán học phong kiến buổi suy tàn, Ôn Như Lương Văn Can trải nghiệm thực tế xã hội Việt Nam đậm nét Nho phong, nơi nghề buôn bị xem là nghề thiếu thành thực; trong bậc thang tứ dân chi nghiệp “sĩ, nông, công, thương”, buôn bán bị xếp cuối cùng. Các triều đại thi hành chính sách “trọng nông ức thương” làm cho nước nhà mạnh về khoa cử mà yếu về thực nghiệp.

Làm Thục trưởng (Hiệu trưởng) trường Đông Kinh Nghĩa Thục, cụ cử Lương Văn Can lo việc thu chi của trường. Nghiên cứu “Đông Kinh Nghĩa Thục” (Nguyễn Hiến Lê, NXB Lá Bối, 1968) viết: “Nhà nho mà biết công việc kế toán là gì đâu, làm toán nhân toán chia sợ còn sai, nhất là lại bận nhiều việc khác trong trường, nên sổ sách tất có chỗ không được kỹ lưỡng, rành mạch và đã có lần vài hội viên xin cụ Lương giao việc kế toán cho người khác, song cụ nhất định không nghe, bảo như vậy không có lợi cho tiếng tăm của trường”.

Sách Kim cổ cách ngôn, bản in năm 2025. Ảnh: TRẦN ĐÌNH BA

Vợ cụ Lương Văn Can, bà Lê Thị Lễ, là chủ một hiệu buôn. Ngôi nhà số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội là nơi bán các loại vải, lụa, the, lãnh của bà Lễ và hai người con gái. Trên gác, phía sau cửa hàng, là nơi cụ Lương Văn Can và các chí sĩ họp bàn quốc sự.

Sau khi trường Đông Kinh Nghĩa Thục được mở, hoạt động và ảnh hưởng tốt đẹp của trường khiến chính quyền bảo hộ lo ngại, tìm cớ đóng cửa trường còn cụ cử Can trở thành cái gai trong mắt thực dân Pháp. Sau vụ Việt Nam Quang phục hội ném bom Khách sạn Hà Nội năm 1913, cụ bị thực dân Pháp bắt, đưa đi an trí tận Nam Vang (Phnom Penh), Campuchia. Nguyên do được cụ giãi bày trong tác phẩm “Ấu học tùng đàm” (Nhà in Thụy Ký, 1925): “không hay su [xu] nịnh tùy thời để lập công danh, lại súc [xúc] phạm về sự kị húy, phải chín năm cơ lưu ở nước khác”.

Sách Kim cổ cách ngôn, bản in năm 1926. Ảnh: THƯ VIỆN QUỐC GIA PHÁP

Trong thời gian ở đất nước chùa tháp, để mưu sinh, nhà cải cách giáo dục một thuở trở thành nhà buôn, cùng con gái, con dâu lập các cửa hiệu, kết nối với thương gia trong nước, tạo nên mối dây xuất nhập khẩu hàng hóa.

Trong nửa đầu thế kỷ XX, khi nước nhà mất tự do, nền thương nghiệp nước ta bị chi phối mạnh mẽ bởi thương nhân ngoại quốc. Thực lực của giới thương nhân Việt yếu ớt, bị thương nhân ngoại quốc chèn ép nặng nề; từ đó dấy lên phong trào “Chấn hưng thực nghiệp”, “Tẩy chay Khách trú”, “Chấn hưng thương trường”. Đây cũng là nỗi trăn trở của nhà yêu nước Lương Văn Can khi ông mong khai dân trí, chấn dân khí qua thực nghiệp.

Tri thức, chữ tín và năng lực xây nghiệp lớn

Sinh thời, chiêm nghiệm về tiền của, cụ Lương Văn Can căn dặn con cháu trong “Lương Ôn Như gia huấn”: “Tiền của quý hồ lưu thông, phải biết làm ra có của, lại phải biết đường dùng của, tham của thời là trọc phú hèn hạ, mà không có chí cao thượng, không hay làm sự công ích”.

Thực tiễn của bản thân, gia đình và đất nước là chất liệu để nhà yêu nước Lương Văn Can chiêm nghiệm, đúc rút về đạo kinh doanh, đặt nền tảng cho “thương học” (khoa học kinh doanh), “thương đức” (đạo đức kinh doanh) và “thương tài” (năng lực kinh doanh) của giới doanh nhân ngày nay qua hai tác phẩm “Kim cổ cách ngôn” (KCCN, Nghiêm Hàm ấn quán, 1926) và “Thương học phương châm” (THPC, Nhà in Thụy Ký, 1928, in sau khi cụ mất).

Trong THPC, cụ Lương Văn Can chia sẻ, người xưa khinh nghề buôn, xem đó là nghề ham lợi, gian dối; giao thông lại bất tiện nên ít người theo nghề. Nhưng thời thế đổi thay, phương tiện giao thông thuận lợi, nhiều quốc gia nhờ thông thương mà trở nên giàu có. Tục ngữ có câu “Phi thương bất phú”. Nước ta kém về thực nghiệp, người làm nghề lại thiếu thương học, thương đức, thương tài. Trong khi đó, nghề buôn cần vốn, tính toán, sổ sách, nhập xuất hàng, quảng cáo…

Do đó, cụ viết sách này với mong muốn “may ra nghề buôn nước ta có phát đạt hơn được chăng”, bởi nghề buôn, hay thương nghiệp, đóng vai trò quan trọng đối với sự nghèo hèn hay phú cường của quốc gia: “Các đại quốc do thông thương mà làm được phú cường, các nhà đại tư bản do kinh thương mà phú gia địch quốc”.

Theo cụ Lương Văn Can, làm nghề buôn phải có “thương học” - khoa học buôn bán, quản trị. Căn cốt đầu tiên là phải có vốn (tư bản): “nghề buôn tất phải có tư bản, tư bản tất phải dự bị làm sao cho chắc chắn”. Để tổ chức việc buôn bán, có thể cá nhân làm hoặc góp vốn vài ba người cùng làm, lập nên “cổ phần công ty”, “vô hạn công ty”... Đó chính là mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ngày nay.

Nhà buôn phải có “thương đức” - đạo đức kinh doanh, với sự trung thực, ngay thẳng là điều tiên quyết: “đại khái người ta sửa sang buôn bán hẳn là trước phải giữ lấy tâm địa cho tốt, đồ hàng phải cho chân thật”... “Phàm dùng thước đo, cân đong tất nhiên công bằng đều đặn không tham lợi nhỏ, để thiệt cho người khác, thế tức là thiện vậy” (KCCN).

Buôn bán phải thành thực, xây dựng lòng tin của khách thì mới bền vững, lâu dài: “Phải nhan sắc vui vẻ tiếp đãi ân cần, vô luận mua được hay không, dẫu năm lần bẩy lần vẫn cứ tình nghĩa như cũ, thời dẫu lần trước không mua được mà lần sau hẳn muốn đến hàng mà mua” (THPC).

Nhà buôn phải có “thương tài” - năng lực kinh doanh: “Cần thì làm ra của, kiệm thì ít tốn của, cần mấy kiệm là cái đạo trị sinh vật” (KCCN); thạo tính toán: “Làm việc gì cũng phải biết tính mà làm nghề buôn thì lại càng nên học tính, có tính thì mới suy hơn quản thiệt, mới biết số xuất nhập bao nhiêu” (THPC); sổ sách, tiền bạc chi ra, thu vào phải luôn để tâm...

Thương nhân giỏi nghề nhưng không được tự mãn, cần có chí tiến thủ, học hỏi không ngừng mới nên sự nghiệp: “Thế giới tiến hóa vô cùng thì người ta tiến thủ cũng phải vô cùng, nếu không gắng sức tiến thủ thời không thành được sự nghiệp lớn”. Năng lực kinh doanh, buôn bán được hội tụ bởi nhiều yếu tố. Việc bán buôn, chọn thế đất buôn bán, tức “thương địa”, phải đảm bảo “cứ chỗ đô hội đông đúc, bến tầu rộng rãi, chỗ làng nước to lớn”.

Ngoài ra, phải xem xét đường giao thông, khí hậu, thuế lệ... Sổ sách nhà buôn cần chia thành nhiều môn loại rõ ràng, có sổ chi xuất, sổ biên hàng bán được, sổ biên hàng mua vào. Khi nhập hàng, cần xem xét kỹ bảy điều: nhu cầu khách hàng nơi mình bán, khả năng cung ứng hàng hóa, đối thủ cạnh tranh nhiều hay ít, vận tải, thuế má thuận lợi hay khó khăn, khả năng trữ hàng, định giá hàng hóa.

Với việc bày biện hàng hóa, những thủ thuật bày biện sao cho bắt mắt, màu sắc hàng hóa ảnh hưởng tới cảm xúc khách hàng như thế nào, nên đảo hàng ra sao… cũng là nghệ thuật của người kinh doanh. Thêm nữa, thái độ bán hàng, nghệ thuật “giao tế tiếp dẫn” cũng rất quan trọng đối với trải nghiệm của khách. Người bán “phải một loạt tiếp đãi lấy thái độ rõ ràng khiêm tốn mà hoan nghênh, không nên có một tí trễ nãi khinh nhờn” (THPC).

Ngày nay, giới doanh nhân rất chú trọng việc tạo lập, bảo vệ, quảng cáo thương hiệu doanh nghiệp. Những vấn đề ấy gần trăm năm trước cụ Lương Văn Can đã lưu ý, dặn dò, trong đó tránh tình trạng “ở một phố cùng buôn một nghề, đặt hiệu không được trùng nhau”. Các doanh nghiệp hiện nay được nhận diện qua logo của nhãn hàng, phản ánh ngành hàng, lĩnh vực kinh doanh.

Theo THPC, cụ gọi đó là "thương hiệu", xem đó là hình ảnh đại diện cho nhà buôn, nên phải đầu tư kỹ càng: “hoặc dùng tên mình, hoặc đặt chữ mới định, rồi đem trình chính phủ, dấu hiệu làm vuông, hoặc làm hình bồ dục, hình tròn cũng tùy ý”. Cụ cũng nhấn mạnh vai trò của quảng cáo đối với hiệu quả kinh doanh: “nghề buôn bán có nhời (lời) quảng cáo thì mới đắt hàng”.

Đầu thế kỷ XX, sự buôn bán nằm trong tay những thương nhân, nhà buôn. Ngày nay, trong thời đại công nghệ, hoạt động kinh doanh đã bước sang một môi trường và phương thức hoàn toàn khác. Dẫu vậy, những giá trị “thương học, thương đức, thương tài” được nhà yêu nước Lương Văn Can đặt nền móng cách nay gần trăm năm vẫn còn nguyên ý nghĩa.

Giới doanh nhân Việt có thể học hỏi kinh nghiệm thương trường từ đồng nghiệp trong nước, từ thành công và thất bại của những doanh nhân lớn trên thế giới nhưng bên cạnh đó, những giá trị căn cốt kia cũng cần được giữ gìn và vận dụng phù hợp với thực tiễn kinh doanh hôm nay. Bởi như Bác Hồ đã dạy: “Gốc có vững, cây mới bền”.

TRẦN ĐÌNH BA

Nguồn SGĐT: https://dttc.sggp.org.vn/nha-yeu-nuoc-viet-dao-kinh-doanh-cho-nguoi-viet-post138315.html