Nhận diện thủ đoạn bóp méo lịch sử trên không gian mạng

Trong môi trường mạng xã hội, những thông tin thiếu đầy đủ về một chi tiết lịch sử đôi khi được tách khỏi bối cảnh, cắt ghép hoặc diễn giải theo hướng khác, dễ tạo ra nhận thức lệch lạc về sự kiện. Làm thế nào để phân biệt nghiên cứu, phản biện lịch sử với cách sử dụng tư liệu thiếu căn cứ? Phóng viên đã có cuộc trao đổi với Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam để làm rõ hơn vấn đề này.

Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài. Ảnh: Diệp Chi

Đại tá, Tiến sĩ Lê Thanh Bài. Ảnh: Diệp Chi

Lịch sử cần tiếp tục được nghiên cứu

- Thưa ông, vì sao những nội dung được giới thiệu là “xét lại lịch sử” có thể thu hút sự chú ý trên mạng xã hội? Phải chăng họ khai thác chính những khoảng trống tư liệu mà giới nghiên cứu vẫn cần tiếp tục làm rõ?

- Lịch sử là những gì đã diễn ra, còn chúng ta tìm hiểu lịch sử thông qua những thông tin, tư liệu được lưu lại từ quá khứ. Nguồn thông tin ấy không phải lúc nào cũng đầy đủ. Khoa học lịch sử vì thế luôn cần tiếp tục tìm kiếm, đối chiếu tư liệu, bổ sung nhận thức để ngày càng tiệm cận sự thật.

Vấn đề cần lưu ý là không nên xem xét một chi tiết chưa được làm rõ đầy đủ và bị tách khỏi bối cảnh, sau đó được sử dụng để đưa ra những kết luận rộng hơn về cả một sự kiện. Nếu chỉ lựa chọn một vài thông tin rời rạc, cắt ghép hoặc suy diễn mà không đối chiếu với các nguồn tư liệu khác, cách tiếp cận đó có thể dẫn người đọc đến nhận thức không đầy đủ về sự kiện lịch sử.

- Lịch sử luôn cần tranh luận để tiến gần sự thật. Vậy căn cứ nào giúp công chúng nhận ra đâu là phản biện khoa học, đâu là cách diễn giải thiếu cơ sở, thưa ông?

- Một công trình khoa học luôn cần góp ý và phê bình. Tranh luận có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng chục năm; điều quan trọng là các bên cùng đối chiếu chứng cứ, xem xét vấn đề toàn diện và hướng tới việc làm rõ sự thật khách quan. Việc trao đổi, nghiên cứu về “Đại Việt sử ký toàn thư” là một ví dụ. Những vấn đề còn có cách hiểu khác nhau vẫn cần tiếp tục được khảo cứu.

Theo tôi, khi tiếp nhận một nhận định về lịch sử, cần xem người nêu vấn đề có trình bày tư liệu đầy đủ hay không, có đặt chi tiết trong bối cảnh lịch sử hay không, các nguồn dẫn chứng có thể kiểm tra được hay không và kết luận đưa ra có phù hợp với những tư liệu được sử dụng hay không. Không nên chỉ dựa vào một chi tiết riêng lẻ để đưa ra kết luận về cả một sự kiện.

Một chi tiết nhỏ cũng cần được đối chiếu

- Ông đề cập đến việc không nên lấy một chi tiết riêng lẻ để đưa ra kết luận về vấn đề lớn. Ông hãy nói cụ thể hơn về trường hợp tranh luận về cách gọi bí danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh?

- Có những trường hợp cùng một nhân vật, sự kiện nhưng cách ghi chép, cách gọi có thể khác nhau trong từng tài liệu hoặc từng hoàn cảnh. Trường hợp được nêu về bí danh của đồng chí Nguyễn Chí Thanh cũng cần được tiếp cận theo hướng đó.

Theo những hồ sơ, tư liệu tôi tiếp cận được, tên gọi “Sáu Vi” được ghi nhận trong một số văn bản; trong cách phát âm tại miền Nam, tên này có thể được đọc thành “Sáu Di”. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào một cách gọi để phủ định cách gọi khác mà không kiểm tra tài liệu gốc, chưa đặt vấn đề trong bối cảnh cụ thể thì rất dễ dẫn đến nhận định thiếu khách quan, đầy đủ.

Điều cần làm rõ là tài liệu nào ghi cách gọi đó, được ghi trong hoàn cảnh nào và có những nguồn tư liệu nào khác có thể đối chiếu. Khi có tranh luận, càng cần trở lại với văn bản, tư liệu gốc và bối cảnh lịch sử thay vì chỉ dựa vào những thông tin được truyền tải trên mạng xã hội.

- Qua ví dụ này, có thể thấy, tâm lý của người đọc thường dễ tiếp cận những thông tin ngắn gọn, trực quan trước khi tìm được văn bản, tư liệu liên quan. Nếu cơ quan nghiên cứu có chứng cứ nhưng phản hồi chậm, khoảng trống thông tin đó sẽ tác động như thế nào đến người đọc?

- Người làm khoa học cần có thời gian tìm kiếm, kiểm chứng, khẳng định rồi mới công bố. Các công trình nghiên cứu thường dài, có nhiều lớp tư liệu, không dễ truyền tải đầy đủ trên mạng xã hội. Trong khi đó, những thông tin ngắn gọn, súc tích, cách diễn đạt đơn giản, gây chú ý lại có khả năng được chia sẻ nhanh.

Muốn trả lời kịp thời, giới nghiên cứu cần tìm cách chuyển những kết quả đã được kiểm chứng thành thông tin ngắn gọn, rõ nguồn, đúng trọng tâm vấn đề. Trình bày súc tích nhưng vẫn phải có chứng cứ. Người muốn tìm hiểu sâu hơn cần được tiếp cận văn bản, tư liệu để có thể tự kiểm tra, đối chiếu.

Cán bộ Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tuyên truyền và hướng dẫn người dân cách ứng dụng công nghệ số để tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện. Ảnh: Vi Hợi

Cán bộ Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu tuyên truyền và hướng dẫn người dân cách ứng dụng công nghệ số để tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, thuận tiện. Ảnh: Vi Hợi

Đưa tư liệu đến gần công chúng

- Trước những nội dung được truyền tải nhanh, dễ tác động mạnh vào cảm xúc của người đọc, ông nhắc đến cách “thắp đèn lên”. Cụ thể, làm thế nào để thông tin lịch sử đến với công chúng nhanh mà vẫn giữ được chuẩn mực khoa học?

- Tôi cho rằng “không ai lấy gậy xua tan bóng tối, mà chúng ta chỉ thắp đèn lên thôi”. Người nghiên cứu, người làm truyền thông và những người quan tâm đến lịch sử cần góp phần đưa những thông tin có căn cứ đến với công chúng, thay vì chỉ phản ứng trước từng nội dung gây tranh luận. Mỗi nội dung cần có cách trình bày phù hợp. Một công trình nghiên cứu có thể dài, nhưng khi giải thích một vấn đề cụ thể, đôi khi chỉ cần dẫn đúng một đoạn tư liệu hoặc một số phát biểu liên quan, kèm nguồn và bối cảnh là có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn vấn đề đang được đặt ra.

Công nghệ tạo thêm điều kiện để việc ấy diễn ra nhanh hơn. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ con người tìm kiếm, xử lý và tiếp cận thông tin, nhưng kết quả vẫn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu và quá trình kiểm chứng. Vì vậy, việc xây dựng, số hóa và chuẩn hóa nguồn tư liệu lịch sử có ý nghĩa quan trọng. Nhà nghiên cứu cũng cần sử dụng những phương thức truyền thông mới để đưa các kết quả nghiên cứu đã được kiểm chứng đến gần công chúng hơn.

- Một kho dữ liệu đáng tin cậy đòi hỏi nhiều cơ quan cùng tham gia. Theo ông, cần có sự phối hợp như thế nào giữa lưu trữ, nghiên cứu và báo chí để những tư liệu đã được kiểm chứng có thể được giới thiệu rộng rãi trên không gian mạng?

- Mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ riêng và cần phối hợp với nhau. Cơ quan lưu trữ có vai trò bảo quản, cung cấp tư liệu theo quy định; cơ quan nghiên cứu đối chiếu, phân tích và làm rõ giá trị của tư liệu; báo chí, truyền thông truyền tải những kết quả nghiên cứu đến công chúng bằng ngôn ngữ dễ tiếp cận.

Với một vấn đề đang được quan tâm, nếu có thể chỉ ra nguồn tư liệu, giải thích nội dung trong đúng bối cảnh và dẫn người đọc đến những tài liệu đầy đủ hơn, việc tiếp nhận thông tin sẽ thuận lợi hơn. Đây cũng là cách để người đọc có điều kiện tự kiểm tra và đối chiếu thông tin.

Bên cạnh báo chí, văn học và nghệ thuật cũng có thể đưa lịch sử đến với công chúng theo những cách gần gũi nhất. Các cơ quan có thể đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tạo điều kiện để người dân tra cứu thuận tiện, chẳng hạn thông qua mã QR để tiếp cận những thông tin liên quan. Khi chứng cứ được lưu giữ, kết quả nghiên cứu được kiểm chứng và công chúng có thêm những kênh thuận tiện để tiếp cận, việc đưa các giá trị lịch sử đến gần công chúng sẽ hiệu quả hơn.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thu Giang (thực hiện)

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/nhan-dien-thu-doan-bop-meo-lich-su-tren-khong-gian-mang-post508150.html