Dùng điện thoại trong lớp: Khi 'cất điện thoại' trở thành một phần của việc học

Điện thoại là công cụ hữu hiệu hỗ trợ học tập, nhưng cũng dễ kéo học sinh khỏi bài học. Khi năm học mới bắt đầu, câu chuyện không chỉ là có nên dùng điện thoại trong lớp mà còn là làm sao để học sinh biết khi nào nên dùng và khi nào cần đặt xuống.

Một chiếc điện thoại, nhiều mục đích

Trong một ngày học, điện thoại có thể xuất hiện với nhiều vai trò. Bạn Trần Tú Bảo (sinh năm 2010) thường dùng điện thoại để tra các thuật ngữ tiếng Anh, tìm công thức, tài liệu, tổng hợp nội dung khi làm bài nhóm hoặc sử dụng các ứng dụng học trực tuyến. Với những tiết được giáo viên cho phép, chiếc điện thoại trở thành một công cụ hỗ trợ cô bạn khá nhanh chóng.

 Theo Tú Bảo, học sinh cần nghiêm chỉnh chấp hành các quy định đã ban hành để đảm bảo việc học diễn ra suôn sẻ, hiệu quả. Ảnh: NVCC.

Theo Tú Bảo, học sinh cần nghiêm chỉnh chấp hành các quy định đã ban hành để đảm bảo việc học diễn ra suôn sẻ, hiệu quả. Ảnh: NVCC.

Trần Thị Kiều Trâm (sinh năm 2009) bắt đầu dùng điện thoại cho việc học từ những năm THCS. Khi lên cấp Ba, những bài thuyết trình, hoạt động nhóm hay thiết kế poster khiến việc tra cứu thông tin và sử dụng các công cụ AI trở thành một phần quen thuộc trong quá trình học.

Tuy nhiên, cũng chính thiết bị ấy có thể khiến việc học bị ngắt quãng. Rất nhiều học sinh từng mất tập trung chỉ vì một thông báo từ bạn bè hoặc ứng dụng. Cảm giác tò mò, sợ bỏ lỡ tin nhắn khiến chúng ta dễ cầm điện thoại lên dù ban đầu không có ý định sử dụng. Với Mỹ Trân (sinh năm 2010), đây cũng là lý do nhà trường đưa ra quy định không sử dụng điện thoại trong giờ học, trừ trường hợp giáo viên cho phép phục vụ tiết học. Ngoài giờ, học sinh vẫn có thể sử dụng nhưng được khuyến khích hạn chế.

 Mỹ Trân cho rằng khi điện thoại thật sự cần sử dụng cho học tập hoặc có việc quan trọng thì vẫn có thể xin phép thầy cô để sử dụng. Ảnh: NVCC.

Mỹ Trân cho rằng khi điện thoại thật sự cần sử dụng cho học tập hoặc có việc quan trọng thì vẫn có thể xin phép thầy cô để sử dụng. Ảnh: NVCC.

Khi “cất điện thoại” trở thành một phần của việc học

Nếu chỉ nhìn điện thoại như nguồn gây xao nhãng, cách xử lý dễ nhất có thể là yêu cầu học sinh cất máy. Thực tế, Kiều Trâm cho biết trường bạn bố trí kệ để điện thoại cạnh bàn giáo viên. Học sinh đặt điện thoại lên đó từ đầu giờ và nhận lại khi tan học.

Ban đầu, Trâm cảm thấy trống trải vì không còn chiếc điện thoại bên cạnh. Nhưng sau một thời gian, bạn nhận ra việc hạn chế sử dụng giúp bản thân bớt phụ thuộc vào việc tra cứu tức thì, có thêm thời gian tự suy nghĩ và trao đổi với bạn bè. Với Trâm, việc “không có điện thoại” đôi khi lại tạo ra một khoảng trống cần thiết để tập trung.

 Kiều Trâm chia sẻ sự kỷ luật chính là nguyên tắc hàng đầu của bạn để không bị xao nhãng bởi điện thoại. Ảnh: NVCC.

Kiều Trâm chia sẻ sự kỷ luật chính là nguyên tắc hàng đầu của bạn để không bị xao nhãng bởi điện thoại. Ảnh: NVCC.

Tuy vậy, Tú Bảo cho rằng cách quản lý cũng cần tính đến những tình huống thực tế. Nếu điện thoại bị thu trong thời gian dài, học sinh có thể gặp bất tiện khi gia đình cần liên lạc hoặc khi có tiết học cần sử dụng thiết bị. Bạn cho rằng học sinh có thể để điện thoại ở chế độ im lặng, cất trong cặp hoặc đặt tại vị trí được quy định; khi tiết học cần dùng thì lấy ra theo hướng dẫn của giáo viên.

Ở góc nhìn của Mỹ Trân, việc cho phép sử dụng khi thực sự cần cũng giúp học sinh hiểu rằng quy định không nhằm cấm điện thoại hoàn toàn. Khi cần phục vụ học tập hoặc có việc quan trọng, học sinh có thể báo với giáo viên để được sử dụng.

Mục tiêu cuối cùng không phải là “không dùng điện thoại”

Những tình huống trên cho thấy việc quản lý điện thoại không chỉ nằm ở chuyện thu hay không thu. Theo ThS.NCS. Nguyễn Thị Ngọc Vui, giảng viên Khoa Tâm lý học, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM, khả năng tự kiểm soát và trì hoãn sự thỏa mãn ở lứa tuổi học sinh vẫn đang phát triển. Trong khi đó, điện thoại liên tục cung cấp những phần thưởng tức thời như tin nhắn, video ngắn hay nội dung mới.

 Ở góc độ tâm lý, cô Vui cho rằng vấn đề sâu hơn không nằm ở bản thân chiếc điện thoại, mà ở nhu cầu tâm lý mà điện thoại đang đáp ứng. Ảnh: NVCC.

Ở góc độ tâm lý, cô Vui cho rằng vấn đề sâu hơn không nằm ở bản thân chiếc điện thoại, mà ở nhu cầu tâm lý mà điện thoại đang đáp ứng. Ảnh: NVCC.

Vì vậy, quy định của nhà trường vẫn cần thiết để tạo một khung hỗ trợ, nhất là với những học sinh chưa kiểm soát tốt thói quen sử dụng. Tuy nhiên, theo cô Vui, kỷ luật có thể thay đổi hành vi nhanh chóng nhưng chưa chắc đã tạo ra năng lực tự kiểm soát. Nếu học sinh chỉ không dùng điện thoại vì sợ bị tịch thu hoặc trừ điểm, hành vi cũ có thể quay lại khi không còn người giám sát.

Điện thoại có thể là công cụ học tập, nhưng việc sử dụng nó hiệu quả vẫn cần một ranh giới. Và ranh giới ấy không chỉ nằm ở chiếc kệ trước bàn giáo viên, mà còn nằm ở khả năng của mỗi học sinh tự biết lúc nào nên cầm lên và lúc nào nên đặt xuống.

Từ đó, câu chuyện có thể chuyển từ “làm sao để học sinh không dùng điện thoại” sang “làm sao để học sinh biết tự quản lý việc sử dụng”. Những kỹ năng tưởng nhỏ như tắt thông báo không cần thiết, để điện thoại ngoài tầm mắt khi học, theo dõi thời gian sử dụng hay nhận diện lúc mình cầm máy chỉ vì buồn chán đều có thể trở thành một phần của quá trình này.

Kim Cương - Hà My

Nguồn HHT: https://hoahoctro.tienphong.vn/dung-dien-thoai-trong-lop-khi-cat-dien-thoai-tro-thanh-mot-phan-cua-viec-hoc-post1876791.tpo