Nhập siêu tăng nhanh, áp sát 17 tỷ USD sau gần nửa đầu năm 2026

Gần 17 tỷ USD nhập siêu sau nửa đầu năm 2026 đang cho thấy một thực tế: phần lớn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu không ở lại nền kinh tế mà quay vòng cho nhập khẩu. Điều này có thể tạo áp lực nhất định lên diễn biến tỷ giá trong thời gian tới...

Gần 17 tỷ USD nhập siêu sau nửa đầu năm 2026 đang cho thấy một thực tế: phần lớn ngoại tệ thu được từ xuất khẩu không ở lại nền kinh tế mà quay vòng cho nhập khẩu. Điều này có thể tạo áp lực nhất định lên diễn biến tỷ giá trong thời gian tới...

Nhập siêu tăng nhanh, áp sát 17 tỷ USD sau gần nửa đầu 2026

Nhập siêu tăng nhanh, áp sát 17 tỷ USD sau gần nửa đầu 2026

Theo báo cáo sơ bộ từ Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 6/2026 (từ ngày 01-15/6), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 51,18 tỷ USD, tăng 7,27% so với nửa đầu tháng 5/2026. Lũy kế đến hết kỳ báo cáo, tổng quy mô thương mại đạt 496,65 tỷ USD.

Riêng trong kỳ 1 tháng 6/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 24,21 tỷ USD, tăng 15,21% so với kỳ 1 tháng 5. Mức tăng này không chỉ phản ánh sự mở rộng về quy mô mà còn cho thấy độ lan tỏa của tăng trưởng đã cải thiện, khi động lực không còn tập trung vào một vài nhóm hàng đơn lẻ mà đã mở rộng sang nhiều ngành.

Trị giá xuất khẩu nhóm kim loại cơ bản bật tăng mạnh. Kim loại thường tăng tới 99,2% (tương ứng khoảng 49,85 triệu USD), trong khi đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 90,92% (khoảng 24,66 triệu USD). Tuy nhiên, các mức tăng này chủ yếu mang tính thời điểm, phản ánh biến động đơn hàng hơn là xu hướng dài hạn do quy mô tuyệt đối còn nhỏ nên không đóng góp lớn vào xu hướng chung.

Về cơ cấu, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò trung tâm. Nổi bật, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với kim ngạch đạt 7,31 tỷ USD, tăng 21,07%, đóng góp lớn nhất vào mức tăng chung.

Cùng xu hướng, điện thoại và linh kiện đạt 2,64 tỷ USD, tăng 21,22%, phản ánh sự cải thiện trong đơn hàng của ngành điện tử tiêu dùng. Trong khi đó, nhóm máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng khác đạt 2,89 tỷ USD, tăng 12,54% cho thấy nhu cầu đầu tư và sản xuất tại các thị trường đối tác đang dần phục hồi.

Đáng chú ý, các ngành công nghiệp hỗ trợ như dây điện và cáp điện tăng 19,08% hay hàng điện gia dụng tăng 19,97% cho thấy chu kỳ sản xuất không chỉ phục hồi ở các ngành lõi mà còn lan tỏa sang các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và thiết bị, phản ánh chu kỳ sản xuất đang được kích hoạt đồng bộ hơn.

Song song với các ngành công nghệ cao, các ngành thâm dụng lao động như dệt may và giày dép tiếp tục duy trì quy mô lớn trong cơ cấu.

Xuất dệt may đạt khoảng 1,74 tỷ USD, tăng 24,87%, trong khi giày dép đạt 1,06 tỷ USD, tăng 5,23%. Tuy nhiên, xét về tổng thể, nhóm này vẫn đóng vai trò ổn định hơn là dẫn dắt tăng trưởng, do biên độ tăng thấp hơn và phụ thuộc lớn vào yếu tố mùa vụ cũng như sức mua cuối cùng.

Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 6/2026 và kỳ 1 tháng 5/2026. Nguồn: Cục Hải quan.

Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 6/2026 và kỳ 1 tháng 5/2026. Nguồn: Cục Hải quan.

Trong ngành điện tử, hoạt động nhập khẩu linh kiện và thiết bị thường diễn ra sớm hơn chu kỳ xuất khẩu khoảng 2–3 tháng. Điều này xuất phát từ đặc thù sản xuất theo đơn hàng, khi doanh nghiệp cần chuẩn bị nguyên vật liệu trước để đáp ứng các đơn hàng đã ký kết hoặc đơn hàng đặt trước cho giai đoạn cao điểm. Do đó, đây là giai đoạn thường ghi nhận nhu cầu nhập khẩu tăng lên nhằm phục vụ kế hoạch sản xuất cho quý III.

Trong khi đó, nhập khẩu đạt 26,98 tỷ USD, tăng nhẹ 1,02%, cho thấy cả hai chiều thương mại cùng mở rộng nhưng với tốc độ không đồng đều.

Điểm đáng chú ý là cấu trúc nhập khẩu có sự tương đồng rõ nét với xuất khẩu khi vẫn tập trung vào các nhóm phục vụ sản xuất như máy vi tính, điện tử và linh kiện đạt 10,8 tỷ USD, tăng 0,66%, điện thoại và linh kiện tăng 10,6% và máy móc thiết bị tăng 4,21%

Ở nhóm năng lượng, nhập khẩu xăng dầu đạt 476,42 triệu USD, tăng 58,93%, trong khi khí đốt hóa lỏng đạt 205,87 triệu USD, tăng 88,84%, phản ánh nhu cầu sản xuất và vận tải phục hồi.

Đáng chú ý, quá trình chuyển dịch sang xăng sinh học E10 đang từng bước tác động đến cơ cấu nhập khẩu, khi nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất ethanol gia tăng. Điều này phần nào thể hiện qua việc nhập khẩu ngô tăng mạnh lên 211,76 triệu USD, tăng 213,31% không chỉ phục vụ chăn nuôi mà còn liên quan đến chuỗi cung ứng nhiên liệu sinh học.

Xét theo khu vực doanh nghiệp, khu vực FDI tiếp tục chi phối cả hai chiều thương mại khi kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 19,54 tỷ USD, tăng 16,26% trong khi nhập khẩu đạt 19,79 tỷ USD, giảm 0,83% nhưng vẫn chiếm tới hơn 73% tổng kim ngạch. Điều này cho thấy dòng chảy thương mại của Việt Nam vẫn gắn chặt với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 6/2026 và kỳ 1 tháng 5/2026. Nguồn: Cục Hải quan.

Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 6/2026 và kỳ 1 tháng 5/2026. Nguồn: Cục Hải quan.

Về trung và dài hạn, thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và gia tăng hàm lượng giá trị trong nước. Nếu không cải thiện được các yếu tố này, tăng trưởng xuất khẩu dù cao về quy mô vẫn khó chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững về chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Mô hình “nhập khẩu đầu vào-xuất khẩu thành phẩm” của khu vực FDI tạo ra dòng ngoại tệ hai chiều, trong đó phần lớn nguồn thu từ xuất khẩu được sử dụng để thanh toán nhập khẩu. Vì vậy, lượng ngoại tệ thực sự tích lũy trong nền kinh tế không tương xứng với quy mô kim ngạch.

Ở góc độ vĩ mô, cấu trúc này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến tỷ giá. phần lớn USD thu được từ hoạt động xuất khẩu không được giữ lại lâu trong hệ thống mà nhanh chóng được sử dụng để thanh toán cho nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện và máy móc nên dù xuất khẩu tăng mạnh, nguồn cung USD ròng không tăng tương ứng vì bị “hấp thụ” ngay bởi nhu cầu nhập khẩu. Trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu đầu vào duy trì ở mức cao thì cầu USD trên thị trường tiếp tục tăng.

Khi cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung thực tế, tỷ giá sẽ chịu áp lực theo hướng tăng. Nếu đồng Việt Nam mất giá mạnh, chi phí nhập khẩu sẽ gia tăng, kéo theo rủi ro lạm phát nhập khẩu và làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Trong bối cảnh môi trường quốc tế còn nhiều bất ổn, đặc biệt là các căng thẳng địa chính trị và rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng, doanh nghiệp có xu hướng chủ động nhập khẩu sớm để đảm bảo nguồn nguyên liệu và hạn chế rủi ro chi phí trong tương lai. Điều này khiến kim ngạch nhập khẩu duy trì ở mức cao ngay cả khi nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu lớn chưa phục hồi hoàn toàn, từ đó tạo áp lực lên cán cân thương mại trong ngắn hạn.

Trong trường hợp các yếu tố bên ngoài dần ổn định, đặc biệt là khi áp lực chi phí năng lượng giảm và chuỗi vận tải thông suốt, lượng đầu vào đã nhập khẩu sẽ trở thành nền tảng để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trong các tháng cuối năm. Khi đó, xuất khẩu có thể phục hồi mạnh hơn, giúp cân bằng lại cán cân thương mại.

Ở góc độ dòng tiền, nếu phần lớn nhập khẩu phục vụ cho sản xuất và tái xuất, áp lực lên thị trường ngoại hối nhiều khả năng chỉ mang tính ngắn hạn. Điều quan trọng là liệu chu kỳ nhập khẩu hiện tại có chuyển hóa thành tăng trưởng xuất khẩu trong các kỳ tiếp theo hay không, bởi đây mới là yếu tố quyết định tính bền vững của cán cân thương mại.

Trong nửa đầu tháng 6/2026, cán cân thương mại quay trở lại trạng thái thâm hụt 2,77 tỷ USD. Lũy kế từ đầu năm đến giữa tháng 6 mức nhập siêu đạt 16,8 tỷ USD với phần lớn mức thâm hụt đến từ khu vực doanh nghiệp trong nước là 22,61 tỷ USD, trong khi khối FDI vẫn xuất siêu 5,8 tỷ USD. Diễn biến này phản ánh nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu và máy móc phục vụ sản xuất đang gia tăng cho thấy nền kinh tế đang trong giai đoạn mở rộng.

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/nhap-sieu-tang-nhanh-ap-sat-17-ty-usd-sau-gan-nua-dau-nam-2026.htm