Nhập siêu và câu chuyện nội lực sản xuất 4 tháng đầu năm
Dù tổng kim ngạch tăng mạnh 24,2%, việc Việt Nam nhập siêu 7,11 tỉ USD đang đặt ra nhiều vấn đề về tính tự chủ nguyên liệu và khả năng tận dụng các FTA của doanh nghiệp.
Nhập siêu đã trở thành một hiện tượng đáng chú ý trong bức tranh kinh tế vĩ mô của Việt Nam ngay từ những tháng đầu năm 2026. Sau một thời gian dài duy trì trạng thái xuất siêu kỷ lục để tạo bệ đỡ cho tỷ giá và dự trữ ngoại hối, việc cán cân thương mại đảo chiều thâm hụt tới 7,11 tỉ USD chỉ trong vòng 4 tháng đã làm dấy lên nhiều luồng dư luận trái chiều.
Để giải mã bản chất của con số này, cũng như tìm hiểu xem đây là tín hiệu tích cực của chu kỳ sản xuất mới hay là hồi chuông cảnh báo về sự mất cân đối thương mại, PV Một Thế Giớiđã có cuộc trao đổi với PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế - tài chính cao cấp, nguyên Trưởng khoa Tài chính Quốc tế tại Học viện Tài chính. Với góc nhìn sắc sảo của một chuyên gia kinh tế lâu năm, ông có những phân tích sâu về thực trạng "khỏe xuất, mạnh nhập" và lộ trình bền vững cho hàng hóa Việt.
Tín hiệu từ nhu cầu phục hồi sản xuất
- Thưa ông, trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng tới 24,2% nhưng cán cân thương mại lại đảo chiều sang nhập siêu 7,11 tỉ USD. Ông đánh giá thế nào về tính chất của con số nhập siêu này? Liệu đây là 'nhập siêu tích cực' để phục vụ sản xuất hay là một dấu hiệu cảnh báo về sự mất cân đối thương mại?

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh - chuyên gia kinh tế tài chính cho rằng cán cân xuất nhập khẩu sẽ sớm được cân bằng trở lại.
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Kết quả đó cũng bình thường thôi, bởi vì vào thời gian này các doanh nghiệp đang tích cực nhập khẩu các nguyên-nhiên-vật liệu về để phục vụ sản xuất kinh doanh. Do đó tỷ lệ nhập khẩu nhiều phản ánh nhu cầu cho sản xuất trong nước đang tăng lên một cách đáng kể. Từ các sản phẩm nguyên-nhiên-vật liệu cho sản xuất kinh doanh cho đến các mặt hàng khác.
- Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu hơn 15,6 tỉ USD, trong khi khối FDI vẫn duy trì xuất siêu đạt 8,5 tỉ USD. Phải chăng các doanh nghiệp nội địa đang gặp khó khăn hơn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và chủ động nguồn nguyên liệu trong nước, thưa ông?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Đúng vậy. Trong thực tế chúng ta biết rằng, hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng ta phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên-nhiên-vật liệu từ nước ngoài trong việc đáp ứng nhu cầu cho sản xuất kinh doanh. Vì thế nó cũng là một trong những tác nhân dẫn đến sự thiếu hụt trong sản xuất kinh doanh.
Tất nhiên, việc nhập siêu của khu vực kinh tế trong nước nhiều cũng là một vấn đề lớn. Chúng ta thấy rằng, nhập siêu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp FDI thời gian qua cũng cao, nhưng lại giảm dần trong thời gian gần đây. Thay vào đó xu hướng nhập khẩu chuyển sang khu vực doanh nghiệp sản xuất trong nước. Rõ ràng đây cũng là vấn đề mà chúng ta cần quan tâm.
Rủi ro phụ thuộc và nút thắt giảm nhập siêu
- Số liệu nhập khẩu 4 tháng qua vẫn cho thấy sự phụ thuộc cực lớn vào một vài thị trường truyền thống như Trung Quốc về nguyên liệu đầu vào. Theo ông, đâu là 'nút thắt' khiến các doanh nghiệp chưa tận dụng hiệu quả các ưu đãi thuế quan từ FTA để chuyển dịch nguồn nhập khẩu sang các thị trường khác?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Đúng thế. Thực ra, tính bền vững cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các nguyên vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc. Và rõ ràng, nếu chúng ta không cẩn trọng sẽ dễ bị những nhà nhập khẩu có những phân biệt đối xử. Như vậy, sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng ta.
Bởi như một số mặt hàng chúng ta đã thấy, phía Mỹ áp thuế 200% vì họ có thể coi là nhập khẩu về xong xuất khẩu. Đó là điều mà chúng ta cũng cần quan tâm.
Tuy nhiên, việc nhập khẩu hàng hóa từ các thị trường khác là bài toán không hề dễ vì liên quan đến vốn liếng, vật tư và các hoạt động xuất nhập khẩu đồng bộ. Hiện nay, lấy hàng từ Trung Quốc vẫn là con đường dễ nhất. Do đó, doanh nghiệp cần hiểu và dần có ý thức thay đổi trong việc nhập khẩu từ các thị trường khác để đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, đỡ bị o ép về mặt thị phần.
Nếu doanh nghiệp vẫn giữ thói quen cũ, hàng hóa cũ thì rất khó thay đổi nguồn nhập khẩu. Việc này phải xem xét và thực hiện dần dần.
Áp lực tỷ giá và dự báo cán cân thương mại
- Việc nhập siêu lớn trong thời gian ngắn thường tạo áp lực lên tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối. Ông có dự báo gì về áp lực tài chính đối với điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước từ nay đến cuối năm?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước cần thận trọng trong điều hành, nhưng áp lực này thường chỉ diễn ra trong ngắn hạn. Hoạt động xuất nhập khẩu xoay vòng rất nhanh. Chỉ cần vài ba tháng, khi hàng hóa được chế biến và xuất khẩu, cán cân thương mại sẽ quay trở lại trạng thái bình thường phù hợp với mặt bằng sản xuất chung.
- Ông dự báo khi nào cán cân thương mại sẽ thăng bằng trở lại, và chúng ta cần những giải pháp đột phá nào để chuyển dịch từ nhập siêu sang xuất siêu bền vững?
- PGS. TS Đinh Trọng Thịnh: Hoạt động xuất nhập khẩu này biến chuyển rất nhanh. Chỉ trong vòng vài ba tháng là mọi thứ lại quay trở lại bình thường ngay. Việc nhập khẩu và xuất khẩu luôn cần có sự cân đối, tính toán cho phù hợp với mặt bằng chung của sản xuất kinh doanh trong nước.
Xin trân trọng cảm ơn ông đã trả lời cuộc phỏng vấn này!










