Nhiếp ảnh gia Lê Bích: Rong ruổi lưu giữ hồn Việt

Có người tìm đến nhiếp ảnh để săn khoảnh khắc đẹp. Có người dùng máy ảnh để kể những câu chuyện của con người. Còn với nhiếp ảnh gia Lê Bích, mỗi khuôn hình trước hết là một khoảnh khắc của tư liệu. Gần hai mươi năm rong ruổi qua hàng trăm ngôi làng, anh lặng lẽ ghi lại những chiếc giếng cổ, những lễ hội, làng nghề, nghệ nhân và những di sản đang đứng trước nguy cơ mai một. Từ giếng làng, hành trình ấy mở ra nhiều ô cửa khác nhau, bền bỉ bồi đắp nên một kho tư liệu bằng ảnh lưu giữ hồn cốt làng Việt, người Việt.

Nhiếp ảnh gia Lê Bích. Ảnh: NVCC.

Nhiếp ảnh gia Lê Bích. Ảnh: NVCC.

Từ “con mắt của làng”

Mới đây, nhiếp ảnh gia Lê Bích lại về Duyên Trường - một ngôi làng ở ngoại thành Hà Nội. Giữa những chuyến đi nối tiếp nhau suốt gần hai mươi năm, chuyến đi này không gắn với một sự kiện nào. Anh về Duyên Trường chỉ tìm đến một chiếc giếng làng, lặng lẽ đứng thật lâu nhìn mặt nước trong veo phản chiếu bóng cây cổ thụ rồi bấm máy. Với nhiều người, đó chỉ là một chiếc giếng cũ còn sót lại ở một làng quê Bắc Bộ. Nhưng với Lê Bích, mỗi chiếc giếng luôn chưa đựngnhững câu chuyện văn hóa cần được lắng nghe trước khi được ghi lại bằng ảnh.

Sau chuyến đi, anh đăng bức ảnh lên trang cá nhân cùng những dòng chia sẻ: “Giếng là con mắt của làng, giếng chứa đựng chiều sâu tâm linh, phong thủy và văn hóa cốt lõi của làng quê Việt Nam. Nếu cây đa, mái đình là thực thể sừng sững che chở, thì giếng làng chính là mạch nguồn ẩn sâu bên dưới…”. Đó không đơn thuần là lời bình cho một bức ảnh. Nó giống như sự đúc kết của một người đã dành gần hai mươi năm đi tìm những “con mắt của làng”, lặng lẽ chứng kiến bao đổi thay của làng quê Việt Nam.

Bên giếng làng ngày hội. Ảnh: Lê Bích.

Bên giếng làng ngày hội. Ảnh: Lê Bích.

Trong giới nhiếp ảnh, từ lâu nhiều người không gọi anh bằng tên đầy đủ. Họ quen miệng gọi là “Bích giếng”. Một cái tên không phải do anh tự đặt, cũng không được tạo nên bởi một giải thưởng nào, mà được bồi đắp từ sự bền bỉ hiếm có. Hơn ba trăm chiếc giếng cổ, hơn hai trăm ngôi làng cùng hàng nghìn bức ảnh đã khiến Lê Bích trở thành một trong những người hiểu và gắn bó với giếng làng nhiều nhất hiện nay.

Điều thú vị là giếng làng không phải đề tài đầu tiên Lê Bích theo đuổi. Những năm đầu cầm máy, anh lang thang về các miền quê chỉ với mong muốn ghi lại vẻ đẹp bình dị của làng Việt. Là con trai một họa sĩ, từ nhỏ anh đã theo cha về quê ký họa. Những ký ức ấy gieo vào anh tình yêu với những con đường làng, bờ tre, mái đình và nếp sống chân chất của người nông thôn. Sau này, dù làm việc cho một công ty bất động sản, cuối tuần anh vẫn khoác máy ảnh rong ruổi về làng. Đến năm 2011, khi quyết định rời bỏ công việc ổn định để theo đuổi nhiếp ảnh chuyên nghiệp ở tuổi gần bốn mươi, anh cũng là lúc nhận ra rằng, điều mình muốn tìm kiếm không chỉ là những bức ảnh đẹp, mà là hồn cốt của mỗi ngôi làng.

Giếng làng xuất hiện trong hành trình ấy gần như một sự tình cờ. Ban đầu là những chiếc giếng cổ ở chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa Vô Vi của vùng Hà Tây cũ, rồi những chiếc giếng nằm bên đình làng, cạnh những bàn thờ thần, nơi người dân vẫn tụ họp, chuyện trò hay tổ chức các nghi lễ truyền thống. Sau đó là những chiếc giếng cổ nằm khiêm nhường giữa lòng Hà Nội, ở đền Bạch Mã, đình Yên Thái, ngõ Tạm Thương hay trong những ngôi nhà cổ trên phố Hàng Bông, Hàng Trống. Càng đi, anh càng nhận ra giếng không chỉ thuộc về ký ức của làng quê mà còn hiện diện trong chiều sâu văn hóa của đô thị ngàn năm tuổi.

Ngồi trò chuyện với Lê Bích ở bất cứ đâu, tôi luôn có cảm giác anh nói về giếng như nói về một con người thân thuộc. Anh kể từng loại giếng, từng cấu trúc, từng tập tục gắn với chúng. Ở vùng cao Tây Bắc có giếng đá của người Mông. Người Nùng có những “mó” nước trong vắt chảy quanh năm. Người Tày đào giếng khơi trên sườn đồi rồi lợp mái cọ. Vào miền Trung, hệ thống giếng Chăm ở Gio An dẫn nước từ triền đồi qua những máng đá cổ và phân dòng rất rõ: nước cúng thần, nước ăn, nước sinh hoạt rồi mới đến nước tưới đồng... Mỗi chiếc giếng đều chứa đựng một tri thức dân gian bản địa, một quan niệm về thiên nhiên và cách ứng xử của con người với nguồn nước.

Mùa gặt ở làng. Ảnh: Lê Bích.

Mùa gặt ở làng. Ảnh: Lê Bích.

Có lần, Lê Bích nói với tôi rằng, người ta thường nhớ giếng vì ký ức tuổi thơ. Nhưng với những người từng sống trong không gian làng Việt, giếng còn là một hệ giá trị văn hóa. Nước giếng là “lộc trời”, ai cũng có quyền lấy nước, bất kể giàu nghèo hay sang hèn. Chính sự bình đẳng rất tự nhiên ấy đã nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng của làng quê Việt Nam suốt nhiều thế kỷ. Có lẽ vì hiểu điều đó, nên mỗi khi đứng trước một chiếc giếng cổ, anh không chỉ nhìn thấy một công trình kiến trúc, mà còn nhìn thấy những lớp trầm tích văn hóa lặng lẽ nằm dưới mặt nước.

Điều khiến tôi nể phục ở Lê Bích không nằm ở số lượng hơn ba trăm chiếc giếng anh đã chụp, mà ở cách anh đi đến tận cùng với từng chiếc giếng. Anh hiếm khi bấm máy rồi rời đi. Một chiếc giếng có thể khiến anh trở lại nhiều lần, vào những mùa khác nhau, dưới những điều kiện ánh sáng khác nhau, chỉ để chờ đúng khoảnh khắc mà câu chuyện của nó hiện lên rõ nhất. Rồi từ chiếc giếng ấy, anh lại lần tìm những cụ cao niên trong làng, những người giữ đình, người trông đền hay các nhà nghiên cứu để hỏi về niên đại, cấu trúc, tập tục và những câu chuyện đã gắn với nó qua nhiều thế hệ.

Có những cuộc chờ đợi kéo dài hàng tháng, thậm chí nhiều năm. Với giếng làng Diềm (Bắc Ninh), anh đã chụp không ít lần nhưng vẫn chờ dịp trở lại khi các cụ trong làng làm lễ thau giếng để ghi lại một nghi thức đang ngày càng hiếm gặp. Còn ở giếng làng Yên (xã Tây Phương, Hà Nội), anh đợi đến đúng đêm Giao thừa, khi người dân ra xin “lộc nước” đầu năm. Trong ống kính của anh, điều đáng lưu giữ không chỉ là chiếc giếng, mà còn là những phong tục, niềm tin và nếp sống đã tồn tại cùng chiếc giếng qua bao thế hệ.

Bởi vậy, có những chuyến đi Lê Bích trở về mà không mang theo bức ảnh nào thật sự ưng ý. Nhưng anh chưa bao giờ coi đó là chuyến đi vô ích. Điều ở lại sau mỗi lần về làng còn là những câu chuyện, những lớp tri thức dân gian và ký ức của các bậc cao niên. Anh hiểu rằng, nếu không kịp ghi lại hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn ai kể nữa.

Hội vật Cầu nước làng Vân. Ảnh: Lê Bích.

Hội vật Cầu nước làng Vân. Ảnh: Lê Bích.

Đi trước sự nhạt phai

Nhìn lại hành trình gần hai mươi năm của Lê Bích, tôi nhận ra giếng làng chỉ là cánh cửa đầu tiên. Từ chiếc giếng, anh bước sâu hơn vào thế giới của đình, chùa, lễ hội, làng nghề, tranh dân gian và những nghệ nhân cuối cùng còn giữ nghề. Mỗi chuyến đi về làng lại làm dày dặn hơn những mảng đề tài anh đang theo đuổi, và cũng mở ra thêm một nỗi trăn trở về những giá trị đang dần biến mất trong nhịp sống hiện đại.

Tôi từng hỏi vì sao anh cứ bền bỉ với những đề tài vốn ít người theo đuổi. Lê Bích chỉ cười hiền. Không giống với nhiều nhiếp ảnh gia khác, Lê Bích không cố xây dựng hình ảnh một nghệ sĩ. Ở anh luôn có sự điềm đạm, chỉn chu của một người làm tư liệu, và sự nhẫn nại của một người điền dã. Nhiều lần trò chuyện, tôi có cảm giác mình đang nói chuyện với một nhà nghiên cứu văn hóa hơn là một nhiếp ảnh gia.

Họa sĩ truyền thần.

Họa sĩ truyền thần.

Trong mỗi chuyến về làng, điều anh sợ nhất là một ngày trở lại, ngôi đình đã bị tôn tạo khác đi, chiếc giếng cổ đã bị lấp, người nghệ nhân cuối cùng đã qua đời... Vì thế, anh chụp ảnh như một người làm tư liệu, cẩn trọng với từng chi tiết, từng lời kể, từng lớp hoa văn trên mái đình, từng nét chạm trên bệ đá hay từng chiếc khuôn gỗ cũ trong một làng nghề. Anh tự nguyện nhận mình “là người ghi lại những gì đang tồn tại”. Điều anh muốn lưu giữ không chỉ là hình ảnh, mà còn là những tri thức và ký ức đang lặng lẽ rời khỏi đời sống.

Có những bộ ảnh được hoàn thành sau nhiều năm chỉ vì chờ một khoảnh khắc hiếm gặp. Riêng công đoạn làm điệp của tranh Đông Hồ, anh phải đợi ba năm mới chụp được, bởi người làng chỉ làm khi có nhu cầu. Muốn hiểu trọn vẹn một nghề, anh không chỉ ghi lại sản phẩm cuối cùng mà còn lần theo cả quá trình từ nguyên liệu, công cụ, kỹ thuật đến cách phân phối. Chính sự kiên nhẫn ấy đã tạo nên một kho tư liệu ảnh quý, không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn hữu ích với những người nghiên cứu văn hóa làng Việt.

Lê Bích cũng dành một tình yêu đặc biệt cho Hà Nội - nơi anh sinh ra và lớn lên. Trong những bộ ảnh của anh, Hà Nội không chỉ có phố cổ, mái ngói rêu phong hay những di tích quen thuộc. Đó còn là những chiếc giếng cổ nằm khuất trong ngõ nhỏ, những người thợ thủ công vẫn lặng lẽ giữ nghề, những góc phố cũ và cả những con người âm thầm làm đẹp thành phố. Tôi đặc biệt thích bộ ảnh anh thực hiện trong đêm giao thừa về những công nhân vệ sinh môi trường. Khi nhiều gia đình sum họp cúng giao thừa, họ vẫn miệt mài quét dọn để thành phố đón một mùa xuân sạch đẹp. Lê Bích không tìm kiếm sự bi lụy trong những khuôn hình ấy. Anh chỉ ghi lại vẻ đẹp của những con người lặng lẽ, thậm chí bị lãng quên.

Giếng làng Duyên Trường. Ảnh: Lê Bích.

Giếng làng Duyên Trường. Ảnh: Lê Bích.

Đi nhiều, gặp nhiều, hiểu nhiều hơn về văn hóa truyền thống, nhưng Lê Bích chưa bao giờ tỏ ra cực đoan trước sự thay đổi. Anh hiểu rằng phát triển là quy luật. Điều khiến anh trăn trở không phải là sự đổi thay, mà là việc chúng ta chưa kịp hiểu giá trị của cái cũ đã vội vàng đánh mất nó. “Phải hiểu về quá khứ mới vững bước đến tương lai”  Lê Bích nói. Theo anh, bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên mọi thứ, mà trước hết phải hiểu được bản sắc, để khi sáng tạo và phát triển vẫn không làm đứt gãy cái gốc văn hóa.

Có lần, Lê Bích kể với tôi về một chiếc giếng hình bầu dục ở làng Thượng Hội, Đan Phượng. Người dân gọi đó là tấm gương của làng. Mỗi người khi đi xa hay trở về đều có dịp soi mình trong mặt nước. Câu chuyện ấy khiến anh nhớ đến nhận xét của họa sĩ Lê Thiết Cương: Giếng là nơi sâu nhất của làng; sâu nhất cũng là nơi chứa đựng nhiều nhất. Lòng giếng, vì thế, cũng là lòng làng, lòng người.

Mảng chạm khắc gỗ ở đình làng Sơn Đồng. Ảnh: Lê Bích.

Mảng chạm khắc gỗ ở đình làng Sơn Đồng. Ảnh: Lê Bích.

Tôi nghĩ, nhận xét ấy cũng rất gần với con đường mà Lê Bích đã chọn. Anh không rong ruổi để đi tìm những điều hào nhoáng, càng không mải mê săn những khoảnh khắc sôi động. Anh kiên nhẫn đi vào những tầng sâu của văn hóa Việt, nơi những giá trị bền bỉ nhất thường lặng lẽ nhất. Mỗi bức ảnh vì thế không chỉ là một khuôn hình đẹp, mà còn là một mảnh ký ức được giữ lại cho mai sau.

Có lẽ sẽ đến một ngày, nhiều chiếc giếng trong ảnh của Lê Bích sẽ biến mất. Những cổng làng, những mảng chạm khắc trên đình chùa, những chiếc khuôn gỗ cũ của làng nghề sẽ tiếp tục biến đổi theo dòng chảy của thời gian. Những nghệ nhân anh từng gặp rồi cũng lần lượt đi xa, mang theo những tri thức dân gian chỉ được truyền bằng lời kể. Ngay cả lễ hội, vốn luôn vận động cùng đời sống cộng đồng, cũng sẽ mang những diện mạo khác. Thế nhưng, ở một thời điểm nào đó của lịch sử, tất cả đã được một người lặng lẽ ghi lại bằng sự kiên nhẫn hiếm có.

Mảng chạm khác gỗ ở chùa Vân. Ảnh: Lê Bích.

Mảng chạm khác gỗ ở chùa Vân. Ảnh: Lê Bích.

Có lẽ vì thế, mai này, khi muốn nhìn lại một phần hồn cốt của làng Việt, của văn hóa Việt, chúng ta vẫn còn có thể tìm thấy trong những bức ảnh của Lê Bích. Đó không chỉ là hành trình của một người cầm máy, mà còn là hành trình của một người bền bỉ lưu giữ ký ức, để quá khứ không bị khuất lấp giữa những đổi thay của hiện tại.

Từ lưu giữ đến chia sẻ “vốn cổ”

Không chỉ rong ruổi ghi lại hình ảnh làng Việt, những năm gần đây, nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Bích còn dành nhiều tâm huyết xây dựng diễn đàn Hoa văn cổ trên Facebook. Từ hàng nghìn bức ảnh chụp tại đình, chùa, đền miếu và các di tích trên khắp cả nước, anh cùng cộng sự số hóa, hệ thống hóa và chia sẻ miễn phí những hoa văn, họa tiết cổ truyền Việt Nam như một cơ sở dữ liệu mở dành cho cộng đồng sáng tạo.

Theo Lê Bích, sau nhiều năm đi qua hàng trăm ngôi làng và gặp gỡ các nghệ nhân, anh nhận thấy khoảng cách giữa làng nghề truyền thống với giới thiết kế, kiến trúc, mỹ thuật vẫn còn rất lớn. Trong khi đó, tư liệu chính xác về hoa văn cổ của Việt Nam lại khá tản mạn. Vì vậy, anh mong muốn diễn đàn trở thành cầu nối giữa các nghệ nhân, nhà nghiên cứu, họa sĩ, kiến trúc sư và những người trẻ yêu di sản.

Để làm được điều đó, Lê Bích còn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) phục dựng nhiều hoa văn đã mờ theo thời gian hoặc nằm ở những vị trí khó quan sát. Những hình ảnh được chuẩn hóa dưới dạng nét vẽ đen trắng giúp người học, người làm nghề và các nhà thiết kế có thể tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng thuận lợi hơn. “Tôi gọi đó là những “vốn cổ”. Khi hiểu đúng di sản của cha ông, người nghệ nhân hôm nay có thể sáng tạo nên những sản phẩm mới nhưng vẫn mang đậm bản sắc Việt”- anh chia sẻ.

Sau hơn một năm hoạt động, diễn đàn Hoa văn cổ đã quy tụ hơn 6.000 thành viên, trong đó có nhiều họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia, nhà nghiên cứu và sinh viên mỹ thuật. Với Lê Bích, đó cũng là một cách để những giá trị truyền thống tiếp tục được sống trong đời sống đương đại.

Nguyễn Thanh Bình

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/nhiep-anh-gia-le-bich-rong-ruoi-luu-giu-hon-viet.html