Nhìn lại hơn 15 năm thi hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới

Sau hơn 15 năm thi hành, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, vận hành hiệu quả hệ thống thanh toán và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trước những thay đổi về tổ chức bộ máy, yêu cầu hội nhập quốc tế và thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ, một số quy định của luật đã bộc lộ những hạn chế, cần được rà soát, sửa đổi, bổ sung.

Đó là một trong những nội dung được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nêu tại Báo cáo tổng kết việc thi hành một số quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12.

Khẳng định vai trò của ngân hàng trung ương trong điều hành kinh tế vĩ mô

Luật Ngân hàng Nhà nước được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 16/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, thay thế Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2003. Ngay sau khi luật được ban hành, NHNN đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đưa các quy định của luật vào thực tiễn, đồng thời xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành.

Theo đánh giá của cơ quan quản lý, qua hơn 15 năm thực hiện, luật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của NHNN trong hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống tổ chức tín dụng; duy trì sự vận hành an toàn, hiệu quả của các hệ thống thanh toán quốc gia.

Trên cơ sở các quy định của luật, thẩm quyền của NHNN được nâng cao đáng kể so với giai đoạn trước. Cơ quan này cơ bản đã có đầy đủ công cụ và thẩm quyền để tham gia thị trường, điều tiết hoạt động của các tổ chức tín dụng và thực hiện các mục tiêu chính sách tiền tệ.

Sau hơn 15 năm thi hành, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Sau hơn 15 năm thi hành, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc nâng cao vai trò quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Báo cáo cho biết cơ cấu tổ chức của NHNN vừa phản ánh mô hình của một cơ quan ngang bộ, vừa mang đặc thù của một ngân hàng trung ương. Hệ thống được tổ chức tập trung, thống nhất, bao gồm bộ máy điều hành, các đơn vị nghiệp vụ tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị trực thuộc.

Trong công cuộc xây dựng thể chế, NHNN đã trình Chính phủ ban hành nhiều nghị định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ngành ngân hàng; đồng thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thanh tra, giám sát ngân hàng. Việc thành lập Vụ Ổn định tiền tệ - tài chính từ năm 2014 cũng góp phần nâng cao vai trò của NHNN trong bảo đảm ổn định hệ thống tiền tệ và tài chính.

Luật cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc mở tài khoản của Kho bạc Nhà nước tại NHNN. Theo đánh giá của cơ quan quản lý, quy định này góp phần hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, hiệu quả và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Một trong những nội dung được đánh giá có tác động tích cực là cơ chế tài chính, kế toán của NHNN. Theo báo cáo, để thực hiện đồng thời chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng trung ương, NHNN được áp dụng cơ chế tài chính riêng, khác với cơ chế ngân sách áp dụng cho các bộ, ngành hành chính.

Các quy định hiện hành cho phép NHNN có vốn pháp định và các quỹ dự phòng nhằm hỗ trợ hoạt động khi cần thiết; đồng thời tạo nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống kho quỹ, công nghệ thông tin và các trang thiết bị phục vụ điều hành chính sách tiền tệ, thanh toán quốc gia.

Bên cạnh đó, các quy định về thu, chi tài chính và xác định kết quả tài chính được đánh giá là phù hợp với đặc thù hoạt động của một ngân hàng trung ương, phản ánh đầy đủ các khoản thu, chi phát sinh từ hoạt động điều hành chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối và các nghiệp vụ ngân hàng trung ương khác. Sau khi bù đắp chi phí và trích lập các quỹ theo quy định, toàn bộ phần còn lại được nộp vào ngân sách nhà nước, đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách hằng năm.

NHNN đánh giá, cơ chế tài chính và kế toán hiện hành vừa bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động của ngân hàng trung ương, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Rà soát, hoàn thiện thể chế để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập

Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo cũng chỉ ra nhiều vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, yêu cầu hoàn thiện thể chế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Theo NHNN, một số quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước chưa theo kịp những thay đổi về tổ chức bộ máy. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 26/2025/NĐ-CP và mới đây Chính phủ ban hành Nghị định số 198/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 26/2025/NĐ-CP ngày 24/2/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mô hình Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng không còn tồn tại như trước đây. Các nhiệm vụ liên quan được phân công cho Thanh tra NHNN; Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng và Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, các quy định của luật hiện hành vẫn chưa được điều chỉnh tương ứng.

Bên cạnh vấn đề tổ chức bộ máy, NHNN cho rằng một số quy định liên quan đến hoạt động nghiệp vụ cần được bổ sung để đáp ứng yêu cầu quản lý mới.

Đáng chú ý, khoản 15 Điều 4 của luật hiện chỉ quy định nhiệm vụ lập cán cân thanh toán quốc tế, trong khi thực tiễn và các cam kết quốc tế đòi hỏi phải có thêm cơ sở pháp lý cho việc lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế (IIP). Đây là bộ số liệu quan trọng phản ánh vị thế tài sản và nợ đối ngoại của quốc gia, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) yêu cầu các nước thành viên cung cấp.

NHNN nhấn mạnh, việc chưa có cơ sở pháp lý về IIP khiến NHNN gặp khó khăn trong thu thập thông tin, xây dựng dữ liệu và thực hiện nghĩa vụ báo cáo quốc tế. Đồng thời, điều này cũng ảnh hưởng tới khả năng đánh giá rủi ro tài chính đối ngoại, điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá và các chính sách kinh tế vĩ mô.

Một nội dung khác được đề xuất sửa đổi là quy định về sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, quy định hạn chế sử dụng ngoại hối chủ yếu được đặt tại Pháp lệnh Ngoại hối. Theo NHNN, việc luật hóa nguyên tắc này sẽ bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, nâng cao hiệu lực pháp lý, tạo cơ sở thống nhất với các luật liên quan và góp phần hạn chế tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.

Vấn đề tài chính, kế toán cũng được xác định là một trong những nội dung cần hoàn thiện. Báo cáo cho biết việc áp dụng các nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước đối với hoạt động tài chính của NHNN còn phát sinh những cách hiểu khác nhau. Trong khi đó, đặc thù hoạt động của ngân hàng trung ương khiến việc lập dự toán thu, chi theo cơ chế ngân sách thông thường gặp nhiều khó khăn.

NHNN cũng chỉ ra bất cập trong cơ chế xử lý kết quả tài chính. Theo quy định hiện hành, phần chênh lệch thu lớn hơn chi của NHNN được nộp ngân sách nhà nước, trong khi pháp luật chưa quy định đầy đủ cơ chế xử lý trường hợp chênh lệch chi lớn hơn thu. Báo cáo cho biết quy mô Quỹ Dự phòng tài chính của NHNN có hạn, có thể không đủ để bù đắp các khoản chênh lệch chi lớn hơn thu phát sinh. Theo nghiên cứu thông lệ quốc tế, nhiều ngân hàng trung ương được phép sử dụng các quỹ dự trữ để bù đắp kết quả tài chính âm; trường hợp không đủ nguồn thì được Chính phủ cấp bù.

Từ kết quả tổng kết, NHNN đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước theo hướng cập nhật mô hình tổ chức mới; bổ sung nhiệm vụ lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế; luật hóa nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; hoàn thiện quy định về cung cấp thông tin phục vụ điều hành chính sách tiền tệ và quản lý ngoại hối; sửa đổi các quy định liên quan đến thu, chi tài chính, kết quả tài chính và xử lý chênh lệch thu - chi của NHNN.

Theo đánh giá của cơ quan quản lý, việc sửa đổi luật là cần thiết nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế trong giai đoạn phát triển mới, tháo gỡ những điểm nghẽn phát sinh từ thực tiễn và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho hoạt động của ngân hàng trung ương trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Hồng Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nhin-lai-hon-15-nam-thi-hanh-luat-ngan-hang-nha-nuoc-viet-nam-va-yeu-cau-dat-ra-trong-giai-doan-moi-183120.html