NHNN quy định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi tối đa 95%

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đáng chú ý, Thông tư đưa vào lộ trình áp dụng các chỉ tiêu thanh khoản LCR, NSFR, đồng thời quy định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa 95%.

Ngày 30/9/2026, NHNN đã ban hành Thông tư 50 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là các tổ chức tín dụng - TCTD).

Theo Thông tư 50, các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì, bảo đảm các giới hạn, tỷ lệ an toàn gồm hạn chế, giới hạn cấp tín dụng; tỷ lệ khả năng chi trả (LCR); tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR); tỷ lệ mua, nắm giữ, đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; giới hạn góp vốn, mua cổ phần; tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) và tỷ lệ đòn bẩy. Một trong những nội dung đáng chú ý tại Thông tư là quy định về LDR. Điều 12 quy định tỷ lệ này được xác định trên cơ sở tổng dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi sau khi thực hiện các điều chỉnh theo quy định. Theo đó, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ LDR tối đa 95%.

Thông tư cũng quy định cụ thể các cấu phần được tính vào tổng dư nợ cho vay, tổng tiền gửi và các khoản phải loại trừ khi tính toán LDR.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Theo đó, tổng dư nợ cho vay bao gồm dư nợ gốc nội bảng mà ngân hàng chịu rủi ro phát sinh từ hoạt động cho vay đối với cá nhân, tổ chức và một số khoản cho vay phát sinh từ hoạt động ủy thác. Khi xác định tổng dư nợ cho vay, ngân hàng loại trừ dư nợ cho vay đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam và số dư vay tái cấp vốn của NHNN không nhằm mục đích hỗ trợ thanh khoản.

Tổng tiền gửi được xác định từ tiền gửi của tổ chức, cá nhân cùng một số nguồn vốn khác theo quy định, sau khi thực hiện các khoản loại trừ được nêu tại Điều 12.

Đáng chú ý, thời điểm áp dụng tỷ lệ LDR 95% được gắn với lộ trình áp dụng hai chỉ tiêu LCR và NSFR quy định tại Điều 13, thay vì áp dụng đồng loạt ngay khi Thông tư có hiệu lực.

Theo quy định tại Thông tư 50, kể từ ngày 1/10/2028, ngân hàng phải áp dụng đồng thời tỷ lệ LCR và tỷ lệ NSFR theo lộ trình quy định. Các ngân hàng đáp ứng điều kiện có thể đăng ký với NHNN để áp dụng sớm. Cụ thể, đối với các ngân hàng thực hiện theo lộ trình chung, LCR tối thiểu ở mức 50% từ ngày 1/10/2028, tăng lên 60% từ ngày 1/10/2029; 70% từ ngày 1/10/2030; 80% từ ngày 1/10/2031; 90% từ ngày 1/10/2032 và đạt 100% từ ngày 1/10/2033. Trong khi đó, tỷ lệ NSFR được áp dụng theo lộ trình 90% trong năm thứ nhất, 95% trong năm thứ hai và 100% từ năm thứ ba trở đi.

Các ngân hàng cũng được phép đăng ký áp dụng sớm LCR, NSFR. Trường hợp đăng ký tuân thủ ngay ngưỡng tối thiểu 100% đối với cả hai chỉ tiêu, ngân hàng phải đáp ứng các yêu cầu về đánh giá tuân thủ và báo cáo theo quy định.

Đối với ngân hàng được NHNN chấp thuận áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ theo quy định tại Thông tư 14/2025/TT-NHNN trước ngày 1/7/2033, ngân hàng phải tuân thủ ngưỡng tối thiểu 100% đối với cả LCR và NSFR trong thời hạn tối đa 90 ngày kể từ ngày được chấp thuận.

Trong giai đoạn trước khi áp dụng LCR và NSFR theo Thông tư 50, ngân hàng tiếp tục tuân thủ và báo cáo các chỉ tiêu theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi, bổ sung, gồm tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung, dài hạn và tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi.

Từ thời điểm ngân hàng chuyển sang áp dụng LCR và NSFR, ngân hàng thực hiện LDR theo Điều 12 Thông tư 50. Đồng thời, một số chỉ tiêu thanh khoản theo cơ chế cũ sẽ được chuyển sang chế độ báo cáo hoặc không còn phải tuân thủ theo quy định tại khoản 5 Điều 13.

Bên cạnh các tỷ lệ định lượng, Thông tư đặt ra yêu cầu cao hơn đối với quản trị nội bộ. Ngân hàng phải ban hành quy định nội bộ để quản lý các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn; xây dựng cơ chế theo dõi, quản lý rủi ro cấp tín dụng; quản lý cơ cấu vốn tự có và tài sản; đồng thời thiết lập hệ thống cảnh báo sớm đối với nguy cơ suy giảm các tỷ lệ an toàn.

Các quy định nội bộ về quản lý giới hạn, tỷ lệ an toàn và quản lý rủi ro thanh khoản phải được rà soát, đánh giá định kỳ ít nhất mỗi năm một lần và sửa đổi, bổ sung khi cần thiết. Ngân hàng cũng phải có hệ thống thông tin được kết nối toàn hệ thống, có khả năng lưu trữ, truy cập và bổ sung cơ sở dữ liệu về khách hàng, thị trường; thống kê, theo dõi và quản lý dòng tiền, nguồn vốn, tài sản và nghĩa vụ phải trả để phục vụ việc tính toán, quản lý, giám sát các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn.

Trong trường hợp qua thanh tra, kiểm tra, giám sát phát hiện vấn đề về quản lý rủi ro thanh khoản, NHNN có quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện một hoặc một số biện pháp khắc phục. Các biện pháp có thể bao gồm hoàn thiện chính sách nội bộ và kế hoạch dự phòng thanh khoản; giảm mức độ rủi ro thanh khoản; hạn chế cấp tín dụng, góp vốn, mua cổ phần hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh; yêu cầu áp dụng tỷ lệ an toàn vốn cao hơn.

Thông tư cũng xác định trường hợp ngân hàng có nguy cơ mất khả năng chi trả khi giá trị tài sản có tính thanh khoản cao đủ điều kiện tại thời điểm tính LCR thấp hơn 90% mức phải đáp ứng để tuân thủ LCR trong thời gian 30 ngày liên tục. Thông tư 50/2026/TT-NHNN có hiệu lực thi hành từ ngày 1/12/2026 và quy định cụ thể cơ chế chuyển tiếp đối với một số ngân hàng đang thực hiện các quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN và Thông tư 22/2019/TT-NHNN.

Quỳnh Trang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/nhnn-quy-dinh-ty-le-du-no-cho-vay-tren-tong-tien-gui-toi-da-95-188359.html