Những bí ẩn trong ngôi đền linh thiêng tồn tại hàng trăm năm ở xứ Nghệ
Ngày đầu năm mới, con đường dẫn về thôn Hà Lương (xã Kim Bảng) dường như lắng lại. Giữa sắc xanh núi đồi và làng quê yên ả, đền Bạch Mã hiện lên trầm mặc, cổ kính. Với người dân xứ Nghệ, nơi đây không chỉ là một di tích lịch sử - văn hóa, mà còn là chốn linh thiêng để tìm về.
Từ xa xưa khi nhắc đến những ngôi đền của xứ Nghệ dân gian đã truyền tụng câu: "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng", bốn ngôi đền thiêng gắn với lịch sử, tín ngưỡng và niềm tin của người dân vùng đất gió Lào cát trắng.
Cách TP Vinh (cũ) khoảng 45 km, trước mặt đền là con sông Rộ uốn quanh. Đền tọa lạc trong khuôn viên rộng 4.894m2, là một công trình kiến trúc độc đáo. Đền Bạch Mã, là nơi hội tụ trầm tích văn hóa, lịch sử và tinh thần yêu nước của bao thế hệ.

Đền Bạch Mã một trong tứ đại đền thiêng xứ Nghệ.
Những truyền thuyết nổi danh tại ngôi đền cổ kính
Đền Bạch Mã thờ vị nhân thần tức vị thần có tên là Phan Đà. Theo sử cũ, đền phả và truyền thuyết, ông là một vị tướng, sinh vào đầu thế kỷ XV, hiện nay vẫn còn mộ ở xã Thanh Long, huyện Thanh Chương (cũ). Gia đình ông sống bằng nghề chài lưới ven sông Lam. Song ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được ông già tên Bảy làm nghề rèn cưu mang.
Ông nổi tiếng tuấn tú, giỏi võ nghệ, được nhân dân gọi là "trẻ kỳ đồng". Phan Đà từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, tuấn tú, giỏi võ nghệ, được nhân dân tin yêu, bạn bè mến phục.

Đền Bạch Mã mang vẻ đẹp cổ kính.
Năm 1418, khi Bình Định Vương Lê Lợi tiến quân vào Nghệ An, Phan Đà đưa toàn bộ nghĩa quân của mình gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, ông lập được nhiều chiến công hiển hách. Trong một lần bị phục kích bất ngờ, một mình ông tả xung hữu đột, bị trọng thương. Con ngựa "thiên lý mã" mở vòng vây đưa ông về, gần đến Võ Liệt thì ông mất. Tương truyền giọt máu ông nhỏ tới đâu mối lấp đến đó. Và thi thể của ông được mối vùi lấp, rất linh ứng. Năm đó tướng Phan Đà mới 24 tuổi.
Để ghi nhận công lao, sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) truy phong ông là "Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần", cho lập đền thờ và xếp vào hàng "Điển lễ Quốc tế" nghi thức tế lễ cấp quốc gia do triều đình chủ trì. Các triều đại sau đó tiếp tục ban hơn 100 đạo sắc phong, tôn ông là Thượng Thượng Thượng Đẳng tối linh tôn thần.
Tên gọi Bạch Mã gắn với hình ảnh con ngựa trắng theo chân tướng Phan Đà trên khắp các chiến địa, trở thành biểu tượng của sự trung dũng, tinh khiết và lòng trung quân ái quốc.
Du khách thập phương thường xuyên về chiêm bái.
Người dân vì thế tôn ông là thần Bạch Mã. Bởi thuở sinh thời, mỗi lần ra trận, Phan Đà thường khoác áo giáp trắng, cưỡi ngựa trắng, dáng hình ấy in sâu trong ký ức dân gian, để rồi theo năm tháng hóa thành huyền tích linh thiêng.
Năm 1465, trên đường tiến về phương Nam, vua Lê Thánh Tông dừng chân làm lễ tế tại đây. Từ đó về sau, suốt các triều đại từ Lê đến Nguyễn, ngôi đền luôn được triều đình coi trọng, nhiều lần được tu bổ, xây dựng.
Không chỉ được ghi nhận trong sử sách, đền Bạch Mã còn sống động trong đời sống tâm linh của người dân. Tương truyền, thần Bạch Mã nhiều lần cứu giúp nhân dân khỏi thiên tai, dịch bệnh và phù trợ các triều vua, tướng lính đánh thắng kẻ thù hay chuyện cứ đến ngày giỗ thần (13/6 âm lịch) thì trời thường đổ mưa, dù trước đó nắng hạn kéo dài. Từ xa xưa, người xe qua đền, kể cả quan lại, đều phải dừng lại, cởi mũ vái lạy để tỏ lòng thành kính.

Đền Bạch Mã hiện đang lưu giữ nhiều kỷ vật có giá trị.
Trong dân gian vẫn truyền lại những câu chuyện linh ứng, những ai đi qua đền mà thiếu sự thành kính, đặc biệt là trong trang phục trắng, đội nón trắng nhưng không dừng lại hành lễ, dễ gặp điều chẳng lành. Những câu chuyện ấy, qua thời gian, càng làm dày thêm lớp linh khí bao quanh ngôi đền cổ. Cũng vì niềm tin ấy, tránh sự xung khắc về tâm linh, quan phủ đương thời từng mời các thầy địa lý giỏi tìm cách hóa giải, mong dung hòa linh khí của vùng đất thiêng.
Ông Phan Sỹ Đường, thủ từ đền Bạch Mã chia sẻ, từ lâu người dân tìm về đền đều tin vào sự linh ứng. Có người cầu mong "mẹ tròn con vuông", có người khấn xin sức khỏe, công việc làm ăn hanh thông, con cái học hành thuận lợi. Trong đời sống thường nhật của người dân, thần đền còn được tin là che chở cho những điều rất đỗi bình dị từ mùa màng đến vật nuôi trong nhà.
Nét đẹp truyền thống tại miền trung du xứ Nghệ
Bên cạnh giá trị tâm linh, đền Bạch Mã còn ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Trong các cuộc chinh phục phương Nam của các triều đại phong kiến, nhiều vua chúa đã từng đến đây dâng hương, lưu trú trước khi xuất quân.
Đặc biệt, trong cao trào cách mạng 1930 - 1931, đền Bạch Mã là nơi tổ chức các hoạt động bí mật của Nông hội xã Võ Liệt. Năm 1945, trước khi kéo về huyện đường giành chính quyền, Nhân dân tổng Võ Liệt đã tập trung tại đền, biến nơi đây thành điểm xuất phát của những sự kiện mang tính bước ngoặt lịch sử.

Bạch Mã được thờ trong đền Bạch Mã.
Đền Bạch Mã là công trình kiến trúc có giá trị lịch sử nghệ thuật đặc sắc. Do được lập theo chiếu chỉ của nhà vua, công trình được xây dựng công phu, gồm Tam quan, Nghi môn, Hạ điện, Trung điện, Thượng điện, Tả vu, Hữu vu.
Điều đặc biệt là sau hơn 500 năm, nhiều chi tiết kiến trúc vẫn giữ được vẻ nguyên vẹn. Các cánh cửa với lớp sơn cổ vẫn tươi tắn, hoa văn sắc nét. Trong đền còn lưu giữ nhiều cổ vật, đồ tế khí, long ngai, bài vị quý hiếm. Với những giá trị nổi bật đó, ngày 24/3/1994, Bộ Văn hóa -Thông tin xếp hạng đền Bạch Mã là Di tích lịch sử văn hóa - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
Lễ hội đền Bạch Mã có lịch sử lâu đời, từng bị gián đoạn sau Cách mạng Tháng Tám. Từ năm 1994, dần được khôi phục và từ năm 2001 đến nay được tổ chức thường niên, ngày càng quy mô. Theo lệ xưa, lễ hội gồm hai phần chính: lễ tế hiệp đầu xuân và lễ tế điển vào ngày 13/6 âm lịch ngày mất của tướng Phan Đà. Hiện nay, lễ hội chính được tổ chức vào ngày 9 và 10/2 âm lịch, thu hút đông đảo Nhân dân và du khách thập phương.

Lễ hội Đền Bạch Mã được tổ chức rộn ràng, thu hút sự tham gia của người dân. Hằng năm nhân dân trong vùng lại tổ chức lễ tế vào ngày 9 và 10 tháng 2 âm lịch. (Ảnh: CSCC)
Phần lễ gồm lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ rước thần, lễ đại tế; đặc biệt là lễ công bố "Lễ hội đền Bạch Mã" được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Phần hội sôi nổi với biểu diễn nghệ thuật, trò chơi dân gian, vật cù, đập niêu, thi đấu thể thao, trưng bày sản phẩm OCOP và các thành tựu phát triển của địa phương.
Giữa nhịp sống hiện đại, việc gìn giữ và phát huy giá trị của những di tích như đền Bạch Mã không chỉ là câu chuyện bảo tồn kiến trúc, mà sâu xa hơn là giữ gìn hồn cốt của Tết cổ truyền. Mỗi nén hương thắp lên đầu năm, mỗi bước chân tìm về cửa đền là một lần con người lắng lại, nhắc mình nhớ về cội nguồn, về đạo lý "uống nước nhớ nguồn".

Lễ rước trong lễ hội đền Bạch Mã.
Bà Nguyễn Thị Minh Thắng (65 tuổi) một người dân sinh sống gần đền Bạch Mã, chia sẻ: "Hàng năm đến ngày tế lễ, người dân có thể vào dân hương để mong cầu cuộc sống ấm no, sức khỏe, bình an. Đây cũng là nét đẹp truyền thống mỗi dịp đầu năm tại đây, khiến người dân thêm gắn bó và yêu thương nguồn cội. Đền không chỉ là nơi thờ phụng, mà là chỗ dựa tinh thần của cả vùng".
Mùa xuân không chỉ hiện diện trong cành đào hé nụ, mâm cỗ Tết, mà còn lắng sâu trong những ngôi đền cổ nơi lịch sử, tín ngưỡng và niềm tin giao hòa.
Đền Bạch Mã, giữa đất trời xứ Nghệ, vẫn bình lặng nép mình trong núi non mây phủ. Chỉ một dấu chân ngựa trắng giữa thung sâu cũng đủ gọi về hàng trăm năm huyền tích, in đậm trong từng mái đền rêu phong, từng nét chạm cổ kính, từng phiến đá lặng thầm mang hơi thở của quê hương.

Vật cù - trò chơi dân gian độc đáo trong lễ hội đền Bạch Mã.
"Là một người con của xứ Nghệ, tôi rất yêu những nét văn hóa và các di tích xưa cũ tại mảnh đất này. Tới thăm đền Bạch Mã, tôi hiểu rõ hơn lịch sử, trân trọng hơn công lao dựng nước, giữ nước của cha ông ta qua hàng ngàn năm với không ít thăng trầm, biến cố", chị Nguyễn Hà Anh (25 tuổi, phường Thành Vinh, Nghệ An) chia sẻ.
"Tôi rất tự hào khi quê hương thôn Hà Lương, xã Kim Bảng còn lưu giữ di tích gắn với tướng quân Phan Đà. Đó không chỉ là niềm vinh dự của riêng người dân trong xã, mà còn là sự tri ân đối với một vị tướng đã hy sinh vì xóm làng, quê hương và sự bình yên của đất nước", ông Phan Sỹ Đường nói.
Người làng vẫn kể rằng, thuở nước non biến động, anh hùng xuất thế, ngựa thiêng tung vó, chỉ đất dựng cờ nghĩa. Nơi dấu vó in sâu vào lòng đất, dân làng lập miếu, dựng đền, gọi là Bạch Mã chốn linh thiêng lắng đọng giữa đất trời xứ Nghệ.












