Những “cột mốc” văn hóa, tâm linh giữa Trường Sa

Nếu đã từng có may mắn được đặt chân đến các đảo thuộc Đặc khu Trường Sa (tỉnh Khánh Hoà), có lẽ hình ảnh in đậm trong tâm trí của mỗi người sau hải trình dài ngày là những ngôi chùa cổ mang bản sắc văn hóa Việt. Theo hành trình của Đoàn công tác số 19 tỉnh Ninh Bình đến Đặc khu Trường Sa, chúng tôi đã đi qua những mái chùa như thế và hiểu rằng: giữa đại dương mênh mông, có những “cột mốc” thiêng liêng không chỉ được dựng nên bằng gạch đá, mà còn được bồi đắp qua lịch sử, ký ức, lòng biết ơn và tình yêu tha thiết dành cho quê hương, Tổ quốc.

Đặc khu Trường Sa cách đất liền khoảng 250 hải lý (tương đương gần 500 km) là vùng lãnh thổ thiêng liêng, không thể tách rời của Việt Nam.

Trên con tàu KN 491 đưa Đoàn công tác số 19 đến với Đặc khu Trường Sa, chúng tôi mang theo cảm xúc háo hức của những người lần đầu đến với Trường Sa. Sau những ngày lênh đênh, đảo hiện ra. Ban đầu chỉ là một vệt xanh nhỏ giữa đại dương mênh mông. Càng đến gần, những hàng cây, những mái nhà, lá cờ đỏ sao vàng dần hiện rõ. Khi tàu KN 491 kéo hồi còi dài báo hiệu chuẩn bị cập bến, giữa tiếng gió lồng lộng và tiếng sóng vỗ vào bờ kè chợt vang lên một thanh âm thân thuộc, gần gũi mà ấm áp. Đó là tiếng chuông chùa…

Nghi thức thỉnh chuông tại chùa Thuyền Chài thuộc đảo Thuyền Chài, Đặc khu Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa.
Tiếng chuông từ đảo vọng ra, trầm và sâu, lúc rõ, lúc tan vào gió biển. Trong những chuyến đi ngang dọc chiều dài đất nước, mỗi người đã không ít lần ngắm những mái chùa bên triền núi, bên cánh đồng, giữa làng quê hay trong những con phố đông đúc. Nhưng mái chùa Việt hiện lên giữa mênh mông sóng nước Trường Sa lại mang đến một cảm xúc rất khác. Giữa bốn bề biển trời, nơi đất liền đã cách xa hàng trăm hải lý mái chùa không chỉ gợi nhớ một dáng làng, một nếp quê, những phong tục và giá trị tinh thần của người Việt mà còn kiên cường như một “cột mốc” văn hóa, tâm linh, khẳng định sự hiện diện bền bỉ của văn hóa Việt Nam và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc nơi biển đảo tiền tiêu.
Những ngôi chùa trên các đảo thuộc Đặc khu Trường Sa mang dáng dấp rất Việt Nam, với mái ngói đỏ, đầu đao cong mềm mại, những hàng cột vững chãi với chữ quốc ngữ và những họa tiết quen thuộc của kiến trúc Phật giáo truyền thống.

Kiến trúc chùa Trường Sa Đông mang đậm kiến trúc chùa Việt.
Thượng tọa Thích Minh Quang, Ủy viên Thư ký Hội đồng Trị sự, Phó Chánh Văn phòng 1 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam chia sẻ: “Trước đây, các ngôi chùa trên đảo đều là những am nhỏ được người dân lập từ xa xưa để thờ Phật và các đấng thần linh cầu mong những chuyến đi biển thuận lợi, đầy ắp cá tôm. Sau này những ngôi chùa được trùng tu, tôn tạo nhưng vẫn mang đậm kiến trúc chùa Việt. Điều đặc biệt, chính điện, cổng tam quan của những ngôi chùa đều hướng về Thủ đô Hà Nội - trái tim của đất nước”.

Chính điện, cổng tam quan của những ngôi chùa đều hướng về Thủ đô Hà Nội - trái tim của đất nước.
Hạ sĩ Nguyễn Trường Thi, sinh năm 2006, quê Ninh Bình, là một trong những người lính trẻ chúng tôi gặp trong chuyến đi. Rời quê hương với khát khao được trở thành người lính Hải quân, Thi đã trải qua một năm sống và rèn luyện giữa Trường Sa. Sau vẻ rắn rỏi của một người lính là nỗi nhớ nhà rất đỗi bình thường của một chàng trai tròn đôi mươi.

Câu nói của người lính trẻ khiến chúng tôi nhớ mãi. Bởi suy cho cùng, điều kỳ diệu nhất của một không gian văn hóa không phải ở chỗ nó lớn đến đâu hay đẹp đến mức nào, mà ở khả năng đưa con người tìm về những cảm giác thân quen, sự bình yên, thiện lành trong tâm hồn. Và với Thi, bước qua cổng chùa cũng là bước vào một miền ký ức, nơi khoảng cách hàng trăm hải lý với quê nhà bỗng được rút ngắn bằng mùi hương trầm và một tiếng chuông quen.

Những người lính ngoài hải đảo vẫn ngày đêm chắc tay súng để bảo vệ bình yên cho từng tấc đất, vùng biển trời Tổ quốc. Để thực hiện nhiệm vụ, những người lính ấy phải xa cha mẹ, vợ, con... Trong những đêm gác dài, những ngày lễ, Tết hay mùa Vu Lan, nỗi nhớ đất liền đôi khi không ồn ào mà cứ âm thầm lắng sâu. Và giữa những khoảng lặng ấy, ngôi chùa chính là điểm tựa tinh thần, là góc quê hương thu nhỏ giúp họ tìm thấy sự tĩnh tại, sức mạnh nội tâm để đương đầu với bão giông và gian khó, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân đã tin tưởng, giao phó.

Nếu chỉ nhìn những mái chùa thanh bình dưới tán cây bàng vuông, phong ba xanh mướt hôm nay, ít ai hình dung được, có biết bao người đã đóng góp công sức để xây dựng và gìn giữ những công trình ấy giữa đại dương.
Đại tá Nguyễn Kiều Kinh, nguyên Trưởng phòng Chính sách Quân chủng Hải quân, người từng đồng hành cùng Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong quá trình trùng tu, tôn tạo những ngôi chùa tại Trường Sa, vẫn nhớ như in những chuyến vận chuyển vật liệu đầy gian nan.
Có chuyến tàu xuất phát từ Hải Phòng, đến Đà Nẵng lại phải dừng trú vì thời tiết Trường Sa bất ổn. Tới Cam Ranh hay Vũng Tàu, đoàn tiếp tục chờ biển thuận mới có thể đi tiếp.

“Có những pho tượng nặng tới hàng tấn, những cánh cửa tam quan, xà và cột bằng gỗ lim có trọng lượng rất lớn. Từ tàu xuống xuồng đã khó, từ xuồng đưa được vật liệu qua sóng vào đảo còn khó hơn. Có những lần để đưa một pho tượng từ thuyền vào đến nơi cũng phải hết nguyên một ngày. Nhiều khi phải dùng hàng chục chiếc thùng phuy kết thành bè nổi, đặt từng cây cột lim, từng khối đá lên rồi dùng sức người kéo từ tàu vào đảo” - Đại tá Nguyễn Kiều Kinh, nguyên Trưởng phòng Chính sách Quân chủng Hải quân chia sẻ.

“Không thể đong đếm” có lẽ là cách diễn đạt chính xác nhất. Bởi mỗi phiến đá, mỗi hàng cột, mỗi viên ngói trên mái chùa đều mang theo sức nặng của những hi sinh âm thầm mà không phải ai cũng hiểu hết. Hơi muối mặn bám vào gỗ, kim loại, đá và từng khe mái. Gỗ ngoài đảo xuống cấp nhanh hơn rất nhiều so với trong đất liền; thép phải được xử lý chống ăn mòn; những chi tiết kim loại phải lựa chọn vật liệu thích hợp; ngay cả mái ngói cũng cần có những giải pháp đặc biệt để chống chọi với mưa bão.

Thế nhưng, giữa vô vàn yêu cầu kỹ thuật ấy, có một nguyên tắc vẫn được giữ gìn gần như nguyên vẹn: những ngôi chùa phải mang dáng hình của chùa Việt truyền thống. Từ nếp mái đao mềm mại vươn lên nền trời xanh thẳm, những nhịp cột, lớp ngói cho đến họa tiết vảy rồng…, tất cả đều được chăm chút để giữa đại dương, người ta vẫn nhận ra một mái chùa của quê hương.

Trong những ngôi chùa tại Đặc khu Trường Sa, có một ngôi chùa rất đặc biệt - chùa Phan Vinh thuộc đảo Phan Vinh. Không giống với những ngôi chùa khác như Tiên Nữ, Thuyền Chài, Sinh Tồn, Nam Yết..., chùa Phan Vinh là ngôi chùa mang tên một người lính. Đó là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thuyền trưởng con tàu không số Nguyễn Phan Vinh, người đã cùng đồng đội chiến đấu kiên cường và anh dũng hi sinh để bảo vệ đường Hồ Chí Minh trên biển.

Cư sĩ Phật tử Nguyễn Văn Trường đã có nhiều đóng góp trong công tác trùng tu, tôn tạo nhiều ngôi chùa ở Đặc khu Trường Sa, trong đó có chùa Phan Vinh.
Thượng tọa Thích Minh Quang, Ủy viên Thư ký Hội đồng Trị sự kiêm Phó Chánh Văn phòng I Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết: Phật giáo kể từ khi du nhập luôn gắn bó mật thiết và đồng hành cùng dân tộc. Từ thời Lý, thời Trần với những vị thiền sư cởi áo cà sa khoác chiến bào đánh giặc, Phật giáo Việt Nam đã mang trong mình tinh thần “Hộ quốc an dân”. Tri ân báo ân, uống nước nhớ nguồn, tốt đời đẹp đạo là việc làm thiết thực và thường xuyên của tăng, ni, Phật tử.

Theo Thượng tọa Thích Minh Quang, trong giáo lý nhà Phật, “Tứ trọng ân” (Bốn ơn nghĩa lớn nhất mà con người phải khắc cốt ghi tâm) bao gồm: Ơn cha mẹ, ơn Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), ơn Tổ quốc, ơn quần chúng.

Sự hiện diện của tăng, ni, Phật tử góp phần lan tỏa những giá trị văn hóa Phật giáo và tinh thần hướng về biển, đảo của dân tộc.
“Ơn cha mẹ muôn phần trọng đại. Ơn nước nhà rộng rãi bao la. Ơn quần chúng giúp đỡ ta. Ơn thầy ơn bạn đều là cao sâu. Việc tôn vinh một người lính Hải quân ngay tại chốn thiền môn tĩnh lặng chính là cách người Việt Nam thực hành giáo lý Ơn Tổ quốc một cách sống động nhất. Nó đồng điệu hoàn toàn với đạo lý Uống nước nhớ nguồn của dân tộc” - Thượng tọa Thích Minh Quang khẳng định.
Ngôi chùa mang tên một người lính Cụ Hồ, sừng sững giữa Biển Đông là lời khẳng định đanh thép: Nơi nào có văn hóa Việt, có tâm hồn Việt và có sự hy sinh của người Việt, nơi đó là mảnh đất thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc.

Bia tưởng niệm ghi phương danh 64 chiến sĩ hi sinh trong sự kiện Gạc Ma năm 1988 tại chùa Phan Vinh, trong đó có nhiều người con quê hương Ninh Bình.
Trước bia đá ghi phương danh 64 chiến sĩ hi sinh trong sự kiện Gạc Ma ở chùa Phan Vinh, những người con từ đất liền lặng đi rồi dừng lại rất lâu ở những dòng chữ: Liệt sĩ Phạm Gia Thiều (Quê quán: Trực Đông, Trực Ninh, Nam Định); Liệt sĩ Nguyễn Văn Kiên (Quê quán: Nam Tiến, Nam Trực, Nam Định); Liệt sĩ Đinh Ngọc Doanh (Quê quán: Ninh Khang, Hoa Lư, Ninh Bình); Liệt sĩ Trần Văn Bảy (Quê quán: Lê Hồ, Kim Bảng, Hà Nam),… Họ là những người con quê hương Ninh Bình ra đi khi mới ngoài đôi mươi mang theo khí phách kiên cường của người lính, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Giữa tiếng sóng không ngừng vỗ vào đảo, trong làn hương trầm cay cay, dòng người đến thăm lặng lẽ cúi đầu, đầy biết ơn.

Nếu những viên gạch, mái ngói tạo nên hình hài của ngôi chùa, thì chính sự hiện diện và gắn bó của con người đã làm nên sức sống bền bỉ cho mái chùa nơi đảo xa. Ở Trường Sa, mái chùa là điểm tựa tinh thần vững chãi giữa biển khơi và cũng là nơi gìn giữ những nét văn hóa, tâm linh đã theo người Việt qua bao thế hệ.

Những ngôi chùa tại Đặc khu Trường Sa là điểm tựa văn hóa, tâm linh của cán bộ, chiến sĩ, ngư dân và nhân dân trên đảo, là cột mốc khẳng định chủ quyền Việt Nam.
Cánh cửa chùa rộng mở đón người lính sau những giờ làm nhiệm vụ, người dân đến thắp hương trong ngày Rằm, mùng Một, những đứa trẻ theo cha mẹ đi lễ, hay ngư dân ghé đảo sau những ngày dài lênh đênh trên biển. Mỗi người đến chùa với một câu chuyện, một niềm mong cầu riêng, nhưng dưới cùng một mái chùa, trong tiếng chuông ngân giữa sóng gió, họ tìm thấy sự bình yên, sẻ chia và cảm giác gắn kết với quê hương.
Bởi thế, những ngôi chùa ở Đặc khu Trường Sa không chỉ là một công trình tín ngưỡng. Đó còn là nơi kết nối con người với con người, nối đảo xa với đất liền, nối cuộc sống hôm nay với những giá trị văn hóa đã được trao truyền từ nhiều thế hệ. Trong hành trình ấy, chúng tôi gặp Đại đức Thích Quy Nghĩa, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Khánh Hòa. Thầy đã tình nguyện nhận nhiệm vụ trụ trì chùa Trường Sa Đông và nhiều năm gắn bó với đảo.

Tu hành ở bất cứ nơi đâu cũng là một hành trình đòi hỏi sự kiên trì. Nhưng giữa Trường Sa, hành trình ấy còn có những thử thách rất riêng. Gió giật, mưa chan, hơi muối mặn bám vào từng mái ngói, gốc cây. Một việc bình thường như trồng thêm một mầm xanh, chăm một chậu cây hay quét dọn sân chùa cũng trở nên nhọc nhằn hơn giữa điều kiện khắc nghiệt của biển.

Khi nói về những năm tháng gắn bó với đảo, Đại đức Thích Quy Nghĩa nhắc đến triết lý “thiểu dục tri túc” - ít mong cầu và biết đủ. Giữa biển xa, bốn chữ ấy nghe bình dị mà thấm thía. Đại đức ví niềm tin và sự tu tập nơi biển đảo giống như đóa sen vươn lên giữa muôn trùng sóng mặn: sống trong khắc nghiệt mà vẫn giữ được sự thanh tịnh của mình.
Ngư dân Nguyễn Tiên, một người con Gia Lai đã dành nửa đời mình cho những chuyến biển dài ngày, hiểu hơn ai hết sự dữ dội và bất trắc của đại dương. Trước biển lớn, con người dù dày dạn kinh nghiệm đến đâu vẫn có những lúc cảm thấy mình vô cùng nhỏ bé. Mỗi khi tàu đi ngang qua những đảo có chùa, nhìn thấy mái ngói thấp thoáng giữa màu xanh, anh lại thấy lòng mình bình yên.

Đại tá Nguyễn Hữu Minh, Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân cho rằng sự phối hợp giữa Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Quân chủng Hải quân cùng các tổ chức, cá nhân đã góp phần xây dựng, bảo tồn những ngôi chùa trên đảo, tạo nên những không gian sinh hoạt văn hóa và tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân. Đó cũng chính là sự gắn bó bền chặt, thắm thiết tình quân dân nơi tiền đồn của Tổ quốc.


Đoàn công tác số 19 tỉnh Ninh Bình chụp ảnh lưu niệm tại cột mốc chủ quyền đảo Trường Sa.
Rời Trường Sa, con tàu lại kéo hồi còi dài rồi chậm rãi hướng về phía đất liền. Những hàng cây, mái nhà, ngọn hải đăng và mái chùa trên đảo cứ nhỏ dần giữa mênh mông biển biếc. Nhưng dường như có một thanh âm vẫn còn theo mãi những người trở về - tiếng chuông chùa trầm sâu giữa gió biển.
Có những cột mốc được xác định bằng tọa độ trên bản đồ, có những cột mốc được dựng bằng đá, bằng bê tông. Nhưng ở Trường Sa còn có những “cột mốc” không thể đo bằng chiều cao hay giới hạn hình hài của một công trình. Đó là những cột mốc được bồi đắp bằng ký ức của bao thế hệ, bằng lòng biết ơn những người đã nằm lại với biển, bằng niềm tin của người lính nơi đầu sóng, lời nguyện cầu của ngư dân giữa những chuyến khơi xa và sự hiện diện bền bỉ của văn hóa Việt giữa đại dương.





