Nghi lễ cầu an gắn với đời sống người dân buôn làng Tây Nguyên như thế nào?

Từ lời khấn gửi Yang đến tiếng cồng chiêng, vòng xoang và sự góp sức của cộng đồng, Lễ cầu an vẫn được trao truyền như một phần đời sống, nơi những giá trị văn hóa được giữ bằng chính người thực hành.

Tái hiện Lễ cầu an tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam vào sáng nay. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Tái hiện Lễ cầu an tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam vào sáng nay. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Ở Tây Nguyên, nghi lễ truyền thống thường bắt đầu từ những điều rất đỗi quen thuộc với đời sống buôn làng: lời khấn gửi đến thần linh, lễ vật được mỗi gia đình chuẩn bị, tiếng cồng chiêng vang lên trong các dịp cộng đồng sum họp. Qua những nghi lễ ấy, người dân gửi gắm mong ước về sức khỏe, mùa màng thuận lợi và cuộc sống bình yên.

Lễ cầu an là một trong những sinh hoạt như vậy. Khi nghi lễ được tái hiện tại Làng dân tộc Ba Na, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam vào sáng nay (ngày 27/9), những lễ vật, lời khấn, tiếng chiêng và vòng xoang cùng hiện diện trong không gian văn hóa chung.

Nhìn vào cách nghi lễ được thực hành và trao truyền, có thể thấy phía sau một phong tục lâu đời vẫn là câu chuyện về cộng đồng, ký ức và những giá trị được tiếp nối qua các thế hệ.

Khi lời cầu an kể chuyện buôn làng

Theo quan niệm truyền thống của đồng bào, Lễ cầu an thường được tổ chức vào khoảng tháng 11-12 dương lịch, sau khi mùa màng đã thu hoạch. Đây là thời điểm cộng đồng nhìn lại mùa lao động và gửi gắm mong ước cho cuộc sống phía trước: buôn làng khỏe mạnh, gia đình no đủ, mùa màng thuận lợi, tránh dịch bệnh, tai ương và những điều không may.

Nguồn gốc của nghi lễ được lưu truyền qua câu chuyện về một thời buôn làng từng trải qua đại dịch. Khi chưa có thuốc men, nhiều người chết, dân làng tìm đến thần linh, cầu mong xua đuổi những điều xấu. Sau đó dịch bệnh qua đi, cuộc sống trở lại bình yên. Từ câu chuyện ấy, nghi lễ được duy trì và truyền lại cho các thế hệ sau như cách cầu mong sự che chở cho cộng đồng.

Trong quan niệm của đồng bào, thế giới tự nhiên và đời sống con người có mối liên hệ mật thiết. Yang núi, Yang nước, Yang lửa cùng tổ tiên được thỉnh mời trong lời khấn, thể hiện cách con người gửi gắm lòng biết ơn và mong muốn được chở che.

Trong lễ được tái hiện tại Làng dân tộc Ba Na sáng nay, lễ vật gồm lợn, gà và rượu cần. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Trong lễ được tái hiện tại Làng dân tộc Ba Na sáng nay, lễ vật gồm lợn, gà và rượu cần. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Trước ngày lễ, già làng tổ chức cho người dân phát dọn đường đi, sửa sang nhà Rông, bến nước và vệ sinh không gian chung. Công việc chuẩn bị vì thế không chỉ là chuẩn bị cho một nghi lễ. Đó cũng là lúc cộng đồng cùng nhau chăm chút cho không gian sống của chính mình.

Tùy điều kiện kinh tế, mỗi buôn chuẩn bị những lễ vật phù hợp để dâng Yang. Trong lễ được tái hiện tại Làng dân tộc Ba Na sáng nay, lễ vật gồm lợn, gà và rượu cần. Thầy cúng chính cùng các thầy cúng là đồng bào Đinh Văn Thiên, Nay Brui, dân tộc Gia Rai và Tân Quang Đôn, dân tộc Tà Ôi thực hiện nghi lễ, trong khi đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đứng xung quanh cùng chứng kiến.

Lời khấn cũng cho thấy những mong ước rất cụ thể của cộng đồng: cầu cho dân làng có sức khỏe, cuộc sống ấm no, con cháu mạnh khỏe, làm nương rẫy được nhiều lúa, nhiều ngô, mùa màng tươi tốt, buôn làng không có dịch bệnh và tai ương.

“Ơ Yàng! Hôm nay là ngày lành tháng tốt, buôn làng Tây Nguyên chúng tôi thành tâm dâng lễ vật. Dân làng xin dâng lên chư vị thịt heo thịt gà và ché rượu cần thơm ngon, xin mời chư vị thưởng thức. Xin được thỉnh mời Yàng núi, Yang nước, Yang lửa…Cảm ơn các thần linh, tổ tiên đã luôn che chở cho buôn làng. Cầu xin các vị phù hộ cho dân làng, sức khỏe, ấm no và mùa màng tươi tốt bội thu, cho con cháu mạnh khỏe, làm nương rẫy được nhiều lúa, nhiều ngô, cho buôn làng không có dịch bệnh, không có tai ương.Ơi Yàng, ơi tổ tiên, xin hãy nhận lễ vật và phù hộ cho chúng con.”

Trai làng gái bản chuẩn bị rượu cần. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Trai làng gái bản chuẩn bị rượu cần. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Trong những lời khấn ấy, có thể thấy rõ cách đồng bào nhìn về cuộc sống: bình yên của một người gắn với bình yên của cả buôn làng; mùa màng của mỗi gia đình gắn với sự đủ đầy của cộng đồng. Vì thế, Lễ cầu an không chỉ là lời cầu mong cho một cá nhân hay một gia đình, mà là lời nguyện chung của cả cộng đồng.

Di sản được gìn giữ bằng cách nào?

Điều làm nên sức sống của Lễ cầu an không chỉ nằm ở nghi thức cúng Yang hay những câu chuyện được truyền lại. Điều quan trọng hơn, đó là cách cả cộng đồng cùng tham gia vào nghi lễ.

Trong đời sống truyền thống, từ việc dọn đường, sửa nhà Rông, chuẩn bị lễ vật đến tập trung trước nhà Rông để phân công công việc, mỗi người đều có một phần trong quá trình chuẩn bị. Nghi lễ vì thế trở thành một khoảng thời gian cộng đồng cùng làm việc, cùng gặp gỡ và cùng nhắc lại những giá trị mà cha ông đã truyền lại.

Qua mỗi lần thực hành, những câu chuyện về nguồn gốc buôn làng, cách ứng xử với tự nhiên, lòng biết ơn thần linh và tổ tiên, cũng như ý thức về cộng đồng được trao lại cho thế hệ sau bằng một hình thức gần gũi. Đó là thứ tri thức khó có thể truyền nguyên vẹn nếu chỉ được đặt trong sách vở hay trưng bày như một hiện vật.

Ở đây, câu chuyện bảo tồn văn hóa cũng bắt đầu từ một điều rất cụ thể: cộng đồng còn muốn thực hành nghi lễ ấy hay không, còn hiểu vì sao mình thực hành hay không, và thế hệ trẻ có tiếp tục đứng trong vòng người của buôn làng hay không.



Lễ cầu an không chỉ là lời cầu mong cho một cá nhân hay một gia đình, mà là lời nguyện chung của cả cộng đồng. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Lễ cầu an không chỉ là lời cầu mong cho một cá nhân hay một gia đình, mà là lời nguyện chung của cả cộng đồng. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Đó cũng là điểm chạm với cách tiếp cận về phát triển văn hóa được đặt ra trong Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Khi nhân dân được xác định là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, việc bảo tồn không thể chỉ dừng ở giữ lại hình thức của một phong tục. Giá trị của di sản nằm trong chính cộng đồng đang thực hành, trao truyền và làm cho di sản tiếp tục có ý nghĩa trong đời sống.

Với các cộng đồng dân tộc thiểu số, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa khi những không gian văn hóa truyền thống đang đứng trước những thay đổi của đời sống hiện đại. Nghị quyết 46/2026/QH16 về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 cũng đặt việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong một chương trình phát triển rộng hơn, cùng với việc huy động cộng đồng tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản.

Nhìn từ Lễ cầu an, những chủ trương ấy không phải câu chuyện xa với đời sống. Chúng bắt đầu từ những việc rất nhỏ: một già làng gọi bà con cùng dọn đường, những người trong buôn góp lễ vật, thầy cúng truyền lại lời khấn, người trẻ đứng bên cạnh để chứng kiến và học cách cộng đồng mình thực hành một phong tục đã có từ lâu đời.

Khi lễ kết thúc, không gian nghi lễ chuyển sang tiếng cồng chiêng và vũ điệu xoang. Những người tham dự cùng hòa vào vòng xoang, tiếng chiêng nối các thành viên thành một cộng đồng chung.

Không còn ranh giới giữa người thực hành nghi lễ và người đứng xem, âm thanh và chuyển động trở thành cách cộng đồng chia sẻ niềm vui sau khi lời cầu nguyện đã được gửi đi.

Một nghi lễ chỉ thực sự được bảo tồn khi cộng đồng còn thấy mình trong đó. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Một nghi lễ chỉ thực sự được bảo tồn khi cộng đồng còn thấy mình trong đó. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Với việc tái hiện Lễ cầu an tại Làng dân tộc Ba Na, một phong tục lâu đời của các dân tộc Tây Nguyên được đưa đến gần hơn với công chúng, vừa là cách giới thiệu một nghi lễ có hình thức đặc sắc, vừa giúp người xem hiểu vì sao nghi lễ ấy tồn tại và những giá trị nào khiến cộng đồng tiếp tục gìn giữ.

Một nghi lễ chỉ thực sự được bảo tồn khi cộng đồng còn thấy mình trong đó. Với Lễ cầu an, giá trị đó nằm ở việc người dân cùng chuẩn bị, cùng thực hành và cùng trao truyền những quan niệm về cuộc sống, tự nhiên và sự gắn kết buôn làng cho thế hệ sau.

Sau phần lễ, tiếng cồng chiêng vang lên cùng vòng xoang rộn rã. Trong khoảnh khắc ấy, lời cầu an không còn nằm trong lời khấn mà tiếp tục hiện diện bằng âm thanh, bước chân và cộng đồng cùng hiện diện. Đó cũng là cách một giá trị văn hóa được giữ lại: không nằm yên trong ký ức, mà tiếp tục được sống giữa con người hôm nay./.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/nghi-le-cau-an-gan-voi-doi-song-nguoi-dan-buon-lang-tay-nguyen-nhu-the-nao-post1138608.vnp