Những đóa hoa trở thành bất tử: Bài 4: Đứa bé mồ côi mẹ dưới cánh rừng miền Đông năm ấy

Bà Nguyễn Thị Đấu từng là y sĩ C18 Văn phòng Trung ương Cục miền Nam kể cơ duyên bà đến với rừng: 'Tên thật của tôi là Nguyễn Thị Huệ, khi đi kháng chiến, tôi lấy bí danh Nguyễn Thị Đấu - tên một người chú (Nguyễn Văn Đấu) hy sinh anh dũng. Tôi quê xã Định Thủy, Mỏ Cày, Bến Tre - cái nôi của phong trào Đồng Khởi. Tôi là lính của dì Ba Định, trong đội quân tóc dài đi đấu tranh. Tôi lúc ấy còn rất trẻ, mới 17 tuổi đã lì đòn những trận địch đàn áp. Những trận khủng bố, đàn áp, bị địch lùa xuống sông, bị đem đi phơi nắng, bị đánh đập dã man tôi nếm đủ.

Mỗi cuộc đấu tranh chính trị là một trận đánh thực sự, có lực lượng công khai, lực lượng bí mật, vũ khí là lý lẽ, khẩu hiệu; có tiến thoái tùy tình hình... Qua mỗi cuộc đấu tranh, Đảng nhìn thấy những nhân tố tích cực, được bồi dưỡng, đưa vào tổ chức... Năm 1962, Trung ương Cục miền Nam cần nguồn nhân lực. Ở Bến Tre tuyển lựa được 40 cán bộ, trong đó có tôi. Chúng tôi được đưa về Trung ương Cục miền Nam công tác, ở nhiều ban ngành, đơn vị khác nhau. Tôi được đưa về bộ phận hậu cần Trung ương Cục miền Nam, được đi học khóa đào tạo y sĩ...".

Ở tuổi 83, bà Nguyễn Thị Đấu vẫn còn nguyên cảm xúc những năm tháng công tác ở Trung ương Cục miền Nam. Bà nói đó là những ngày thật có ý nghĩa trong cuộc đời, thật đáng nhớ. Chính nơi đây, bà được rèn luyện, trưởng thành. Và cũng dưới cánh rừng này, bà chứng kiến tình đồng chí, đồng đội thật thắm thiết, sâu nặng. Mọi người yêu thương nhau như ruột thịt, không kể miền Nam tập kết trở về hay tại chỗ; người miền Bắc hay người Việt gốc Hoa, Campuchia trở về, từ các tỉnh, thành Nam bộ hay miền Trung đến...

Tất cả đều quây quần, đoàn kết bên nhau để làm tốt công việc được phân công, yêu thương nhau như ruột thịt, không tính toán thiệt hơn, người có địa vị cao cùng đồng cam cộng khổ với anh chị em, trách nhiệm, tận tụy nhiều hơn. Thời đó chúng tôi không có nhiều tài sản, mỗi người chỉ có cái ba lô; dưới bộ quần áo giản dị, thô ráp chứa đựng trái tim nóng hổi, nhiệt tình, sắt son với Cách mạng...

Liệt sĩ Ngô Thị Các, hy sinh năm 1967 khi chưa kịp gặp lại chồng

Liệt sĩ Ngô Thị Các, hy sinh năm 1967 khi chưa kịp gặp lại chồng

Quá nhiều mất mát, đau thương

Bà Nguyễn Thị Đấu giữ những kỷ niệm không quên về các thương binh mình chăm sóc ở trạm xá: "Đánh cái đồn Karachơ, lúc bấy giờ lực lượng Tiểu đoàn 1 là chủ yếu. Đội phẫu thuật y tế của C18 Văn phòng Trung ương Cục miền Nam theo phục vụ trận đánh. Trong lúc hành quân vừa tới điểm thì trời cũng sắp tối rồi. Anh em chuẩn bị đi phục kích đánh bót. Tôi nhớ có em bộ đội tên Thành, còn rất trẻ. Hình như linh tính điều gì, nhìn thấy tôi, mắt em sáng lên, nói: "Chị lại đây em nói này nghe. Nếu khi giờ G nổ súng rồi mà chị không thấy em về, coi như em hy sinh". Nổ súng rồi, thương binh nhiều, lực lượng y tế cứ cáng tải về liên tục. Trong lúc tôi đứng trong ca mổ để trao dụng cụ cho bác sĩ thì thấy Thành được khiêng đi ngang. Tim tôi thắt lại, nhớ lời em nói trước khi bước vào trận đánh. Thương em quá, muốn chào vĩnh biệt em nhưng tôi cũng không thể làm một điều đơn giản như vậy vì đang trong ca mổ. Đúng là khi nổ súng thì em Thành hy sinh. Tôi nhớ mãi, không bao giờ quên đồng đội của mình!

Ở rừng, tôi chứng kiến quá nhiều những cái chết bi thương!"

Trong tận cùng đau thương, tôi đã đến với anh

Trong buổi gặp bà Nguyễn Thị Đấu ở số 16 đường Khổng Tử ở Thủ Đức (cũ); tôi thật ấn tượng khi bà chỉ lên bàn thờ đặt hai bức di ảnh đen trắng, nói: "Đây là chồng tôi. Còn đây là vợ ảnh". Trước sự kinh ngạc của tôi, bà điềm tĩnh kể...

Bà Nguyễn Thị Đấu lục tìm bức ảnh hai đứa nhỏ trong rừng

Bà Nguyễn Thị Đấu lục tìm bức ảnh hai đứa nhỏ trong rừng

"Anh Dương Văn Nghĩa là bác sĩ gây mê hồi sức, để lại người vợ trẻ ở miền Bắc, vượt Trường Sơn về Nam năm 1964; được đưa về phụ trách một bệnh viện của Trung ương Cục. Vợ anh Nghĩa là Ngô Thị Các sau đó tình nguyện theo chồng. Chị cũng vượt Trường Sơn, lần theo dấu chân chồng, chị tìm về Củ Chi vì nghĩ anh Nghĩa được phân công về chiến trường này để phục vụ. Khi chị về đến Củ Chi thì mới biết chồng mình được điều về Trung ương Cục miền Nam. Anh Nghĩa biết vợ về Củ Chi thì đi tìm vợ... Cơ quan ở Củ Chi biết hoàn cảnh của chị Các nên tạo điều kiện cho chị về Trung ương Cục miền Nam. Người thì được điều xuống, người thì được điều lên, hai vợ chồng như cái bóng đuổi nhau... Rồi chị Các hy sinh. Khi nhận được giấy báo tử của vợ, anh Dương Văn Nghĩa như điên dại.

Anh nhiều năm sống với vợ trong tâm tưởng. Tối nào anh cũng cắm ba cây nhang trước võng tưởng nhớ vợ. Lúc ấy, tôi đi học lớp y sĩ về, làm việc cho bệnh viện. Công việc khiến tôi và anh gần gũi nhau. Khi anh mổ cho bệnh nhân, tôi là y tá đưa dụng cụ... Thấy anh quá đau thương, lao vào công việc, không kể gì đến bản thân tôi thật sự ái ngại, lo lắng. Tình cảm tôi dành cho anh lúc ấy chỉ là tình đồng đội, đồng chí, nên khi anh ấy ngõ lời cưới tôi làm vợ, tôi rất đắn đo. Anh ấy sinh ra trong một gia đình quá nổi tiếng, lại là thủ trưởng của mình, lớn hơn tôi nhiều tuổi, đã có một đời vợ.

Tôi là con gái chưa từng yêu ai, lại được nhiều người đeo đuổi, tôi cũng có nhiều lựa chọn. Nhưng rồi cùng bên nhau dưới chiến hào, cùng trải qua những ngày gian khổ của bệnh viện, cùng hòa những giọt nước mắt khi bệnh nhân và chiến thương không qua khỏi, khi bệnh viện bị ném bom, những ngày khó khăn, gian khổ, đói cơm thiếu muối, bệnh viện thiếu rất nhiều trang thiết bị y tế, thuốc men... Chúng tôi cùng chung lưng đấu cật chèo chống đi qua bao gian lao, vượt qua bao khó khăn của bệnh viện trong rừng để cứu chữa thương bệnh binh. Và rồi tình cảm dần phát sinh. Mãi đến 3 năm sau, tôi mới nhận lời lấy anh. Chúng tôi cưới nhau năm 1971, năm 1972, tôi sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Trúc Giang...".

Hai đứa bé cùng được sinh ra dưới cánh rừng miền Đông. Bé Lê Xuân Thế - con nữ Liệt sĩ Lê Thị Quyên sinh năm 1970 (đứng sau) và bé Trúc Giang - con gái bà Nguyễn Thị Đấu sinh năm 1972

Hai đứa bé cùng được sinh ra dưới cánh rừng miền Đông. Bé Lê Xuân Thế - con nữ Liệt sĩ Lê Thị Quyên sinh năm 1970 (đứng sau) và bé Trúc Giang - con gái bà Nguyễn Thị Đấu sinh năm 1972

Kể đến đây, bà Nguyễn Thị Đấu lục tìm quyển album, lấy ra một bức ảnh cũ. Bức ảnh hai đứa trẻ trong rừng với ánh mắt vui tươi, trong sáng, nụ cười tươi xinh đập vào mắt tôi. Cánh rừng năm ấy không che lấp được vẻ đẹp trong sáng, ngây thơ và niềm hạnh phúc ngời lên từ sự hồn nhiên của hai đứa trẻ. Tôi có cảm giác nếu không được sống trong tình yêu thương con người, hai đứa trẻ sẽ không có được sự bình an như thế. Chỉ vào đứa bé trai lớn hơn, bà Nguyễn Thị Đấu rưng rưng kể: "Tôi thương đứa nhỏ này lắm. Ngày tôi học xong khóa y sĩ trở về bệnh viện công tác cũng là ngày mẹ nó mất. Cứ mỗi lần nhớ lại là tôi không cầm được nước mắt, thương đứt ruột. Mẹ mất lúc nó còn quá nhỏ, đâu biết gì. Nó bò quanh mẹ vừa khóc vừa gọi: Mẹ ơi, mẹ ơi!".

Cậu bé ấy tên là Lê Xuân Thế, sinh năm 1970 trong căn cứ rừng miền Đông. Mẹ em là Lê Thị Quyên, công tác ở B15, bộ phận Hậu cần Trung ương Cục miền Nam. Năm 1968, chị Lê Thị Quyên xuống đường vào thành phố Sài Gòn, tham gia chiến dịch Mậu Thân. Chị bị thương, trở về căn cứ Trung ương Cục tiếp tục công tác. "Chị làm cấp dưỡng cho lãnh đạo Trung ương Cục, nấu món cháo cá giải cảm rất ngon, được ông Phạm Hùng đặt tên là "Út cháo cá”, còn ông Võ Văn Kiệt nhận chị Quyên làm con nuôi. Các chú rất thương quý chị Quyên vì lòng trung thành, sự tận tâm, chu đáo", bà Nguyễn Thị Đấu kể. Chị Lê Thị Quyên gục xuống bên bờ suối trong căn cứ Trung ương Cục miền Nam do di chứng vết thương tái phát trong trận xuống đường Mậu Thân 1968 khi đưa một cánh quân giải phóng đánh vào Gò Vấp, để lại đứa con trai nhỏ khi mới một tuổi 12 ngày. Cậu bé Lê Xuân Thế lớn lên trong vòng tay đùm bọc, yêu thương của đồng đội ba mẹ cậu.

Bà Nguyễn Thị Đấu cùng chồng là bác sĩ Dương Văn Nghĩa trong niềm vui có đứa con gái đầu lòng năm 1972

Bà Nguyễn Thị Đấu cùng chồng là bác sĩ Dương Văn Nghĩa trong niềm vui có đứa con gái đầu lòng năm 1972

Bà Nguyễn Thị Đấu ngậm ngùi: "Cậu bé này được sinh ra từ mối tình đẹp của ba mẹ. Cha Thế tên Quyền, mẹ Thế tên Quyên. Chúng tôi ngày xưa cáp đôi cho Quyên và Quyền vì hai cái tên chỉ khác nhau một cái dấu huyền. Giếng nước ở rừng miền Đông rất sâu nên việc kéo nước từ giếng lên là một công việc nặng nhọc đối với phụ nữ. Anh Quyền thường giúp chị Quyên kéo nước giếng cho việc nấu nướng, tắm giặt. Tình yêu hai người nảy sinh trong gian khó ở rừng, được sự vun vén của tổ chức, cũng trải qua những ngày tháng thử thách ác liệt sau trận xuống đường năm 1968...

Và một bé trai kháu khỉnh ra đời. Chị Quyên mất, cháu bé lớn lên trong vòng tay của các anh chị trong cơ quan. Ở rừng thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi dành cho những đứa trẻ những gì tốt nhất có thể. Những đứa trẻ lớn lên bằng nước cơm, sữa là thứ quý hiếm. Đôi lúc còn không có cơm để ăn. Mỗi khi cơ quan bị ném bom, chúng tôi chui hầm, ẵm theo những đứa trẻ. Vừa chăm sóc con nhỏ, vừa phục vụ bệnh viện, chăm sóc thương binh; chúng tôi đã bền bỉ đi qua những ngày gian khổ, ác liệt và may mắn còn được sống trở về...".

Người nữ y sĩ C18 Văn phòng Trung ương Cục miền Nam đã giữ bức ảnh này cùng một số vật kỷ niệm khi nuôi cậu bé Lê Xuân Thế như chiếc bình toong, ca uống nước, chiếc võng... trong rừng miền Đông. Ngày hòa bình, bà tìm cách liên lạc, trao lại những vật kỷ niệm cho gia đình Lê Xuân Thế. Cậu bé được sinh ra trong rừng năm ấy, mồ côi mẹ khi mới hơn một tuổi giờ là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 7, Ủy viên Trung ương Đảng.

Nữ Liệt sĩ Lê Thị Quyên và chồng Lê Văn Quyền (ảnh) gặp lại nhau ở căn cứ Trung ương Cục miền Nam, sau trận xuống đường năm 1968, đưa cánh quân giải phóng đánh vào Gò Vấp bị thương, rút về Ba Thu. Sau trận càn Đông Dương năm 1971, cơ quan Trung ương Cục miền Nam di tản qua đất Campuchia. Do di chứng vết thương trận xuống đường chiến dịch Mậu Thân 1968 tái phát, Lê Thị Quyên mất năm 1971 tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam đóng ở tỉnh Kracheh, vương quốc Campuchia. Mãi đến năm 2004, chồng bà mới tìm được hài cốt, đưa vợ về quê nhà ở Giồng Trôm, Bến Tre (nay là Vĩnh Long).

NHÓM PV

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/bai-4-dua-be-mo-coi-me-duoi-canh-rung-mien-dong-nam-ay_199176.html