Những kỷ niệm sâu sắc về Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp
Trong cuộc đời quân ngũ của mình, tôi may mắn có nhiều dịp tiếp xúc, làm việc với nhiều vị tướng lĩnh của Quân đội ta. Mỗi người - trên từng phương diện - đều là bậc thầy, để lại cho tôi ấn tượng tốt. Trong đó, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, người trong nhiều năm là thủ trưởng trực tiếp, đọng mãi trong tôi nhiều ấn tượng kỷ niệm tốt đẹp.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi không cùng đơn vị với ông. Ông tham gia chỉ huy chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên, còn tôi là cán bộ cấp cơ sở chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên.
Hai năm sau Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, từ Chính ủy Quân đoàn 3, ông Đặng Vũ Hiệp được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, cùng với việc chỉ đạo các mặt công tác: Cán bộ, Tuyên huấn, Báo chí, Xuất bản, Kiểm tra và Văn phòng, còn có phần việc chỉ đạo công tác Chính sách. Sau khi nghỉ hưu, ông lại được Nhà nước phân công giữ chức Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin.
Lần đầu tiên tôi gặp ông là một buổi làm việc vào cuối tháng 10-1978 tại Văn phòng Tổng cục Chính trị. Hôm đó, ông triệu tập Phòng Chính sách - Cục Tổ chức lên báo cáo tình hình công tác chính sách trong Quân đội và hậu phương Quân đội.
Ấn tượng đầu tiên của tôi (một trợ lý cấp Đại úy, mới tròn 30 tuổi) ngưỡng mộ chăm chú nhìn ông - một cán bộ cấp Thiếu tướng còn khá trẻ (được biết, năm đó ông tròn 50 tuổi), tóc muối tiêu, gương mặt đẹp hồng hào, mang kính cận, dáng cao to, tiếng nói trầm ấm, khúc chiết, đĩnh đạc. Khi nghe báo cáo, ông chăm chú lắng nghe, ghi chép vào một quyển sổ nhỏ, thỉnh thoảng gợi mở trao đổi một số vấn đề mấu chốt, có chỗ ông dừng lại hỏi thêm. Và sau cùng, ông đã có những nhận xét chính xác, sắc sảo, thể hiện trình độ hiểu biết sâu, vừa có tính lý luận, vừa giàu thực tiễn, thẳng thắn, chân thành, có chính kiến và quyết đoán. Ấn tượng đầu tiên về ông đọng mãi trong tôi tới hàng chục năm sau này.

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Ảnh tư liệu của gia đình
Có thể nói, so với những người cùng thời, ông Đặng Vũ Hiệp là cán bộ trẻ, có trình độ văn hóa, được rèn luyện trưởng thành từ cơ sở lên tới cán bộ trung đoàn trong kháng chiến chống thực dân Pháp, lại được đào tạo cơ bản, rồi làm Chủ nhiệm Khoa ở Học viện Chính trị. Và nhất là, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông có hơn 10 năm ròng rã lăn lộn chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Ông từng là Chính ủy Tiền phương Mặt trận Tây Nguyên trong nhiều chiến dịch lớn: Chiến dịch Đăk Sương, Chiến dịch 1969, Chiến dịch Đăk Tô - Tân Cảnh, đặc biệt là Chiến dịch Ia Đrăng, tháng 11-1965 và Chiến dịch Tây Nguyên, tháng 3-1975.
Ông Đặng Vũ Hiệp không chỉ là một nhà chính trị tài ba, một vị tướng trận mạc đầy ắp chiến công, mà còn là vị tướng trí tuệ sắc sảo, thông tuệ, mẫn tiệp trong vai trò chỉ đạo công tác Đảng, công tác chính trị nói chung và công tác chính sách nói riêng ở cấp chiến lược. Ông là người có năng lực hiểu biết toàn diện và sâu sắc, cả về lý luận và thực tiễn, nội dung và phương thức tiến hành các lĩnh vực hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đó là kết quả của sự kết tinh hài hòa, cộng hưởng trên nhiều mặt trong con người ông: Trí tuệ, năng lực, tư chất, nhân cách, kinh nghiệm, vốn sống, trách nhiệm và cả tình cảm. Trong nhiều năm, ông là người chủ trì xây dựng và điều hành tổ chức thực hiện kế hoạch công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân; chủ trì việc ban hành các Chỉ thị công tác toàn diện theo định kỳ hoặc các Chỉ thị công tác chuyên đề.
Mỗi lần được ông chủ trì các cuộc hội nghị, hội thảo nghiên cứu các đề án chính sách giữa các cơ quan trong và ngoài Quân đội, hoặc thông qua các tờ trình chính sách lên cấp trên, chúng tôi thật sự tin tưởng. Thông thường, ông chăm chú nghe một cách thấu đáo, lật đi lật lại từng vấn đề - nhất là những vấn đề then chốt - suy nghĩ sâu sắc, cẩn trọng. Và cuối cùng, bằng cương vị và trách nhiệm của mình, ông kết luận với chính kiến rõ ràng, đầy sức thuyết phục. Với phẩm chất, năng lực và phong cách làm việc khoa học của mình, ông không chỉ được cán bộ trong Quân đội kính phục, mà cán bộ các bộ, ngành có liên quan quý mến, nể trọng. Ông thường đưa ra nhiều ý tưởng mới, sát thực, khả thi, có tầm chiến lược. Tôi xin kể một vài mẩu chuyện nhỏ về ông mà tôi biết.
Từ năm 1978-1979, khi Bộ Quốc phòng xúc tiến triển khai nghiên cứu cải cách chế độ tiền lương, Tiểu ban nghiên cứu chúng tôi được Đại tá Kavalốp, chuyên gia về công tác Chính sách Tiền lương của Quân đội Liên Xô (cũ) giới thiệu tại Cục Tài chính. Có lần, ông Đặng Vũ Hiệp cùng dự. Tôi thấy ông trao đổi trực tiếp với ông Kavalốp về các vấn đề một cách lưu loát trôi chảy, kể cả những nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn. Làm được như thế không dễ.
Việc biết tiếng Nga mới chỉ là phương tiện. Điều căn bản là phải biết được nội dung trên cơ sở kiến thức toàn diện: Nắm vững những nguyên tắc cơ bản, tư tưởng chỉ đạo và các bảng thiết kế cụ thể của chế độ tiền lương, phụ cấp; hiểu kỹ hệ thống tổ chức biên chế của Quân đội, tính chất hoạt động đặc thù của từng thành phần, từng lực lượng quân - binh chủng; nắm được những nhu cầu tối thiểu bù đắp cường độ lao động, bảo đảm đời sống của người lao động; đặt chế độ tiền lương Quân đội trong mối tương quan hợp lý với chế độ tiền lương của cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước thuộc các ngành. Rồi nữa, biết so sánh phân biệt giữa Quân đội ta với Quân đội Liên Xô (lúc đó) và một số nước khác...
Vốn tiếng Nga ông có được là kết quả của thời kỳ học ở Học viện Quân chính Lênin từ những năm cuối của thập kỷ 1950. Nhưng, lượng kiến thức có được như ông, phải là một sự tích lũy nghiên cứu nghiêm túc, thấu đáo. Được biết, ngoài tiếng Nga, ông còn sử dụng thông thạo tiếng Pháp. Tiếng Pháp là học từ những năm thiếu thời ở Trường Bưởi.

Đại tướng Đoàn Khuê, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (ngoài cùng, bên phải) trao đổi với Thiếu tướng Phan Khắc Hải, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân trong Ngày kỷ niệm 45 năm truyền thống Báo Quân đội nhân dân (20-10-1950 / 20-10-1995). Ảnh: VŨ ĐẠT
Thời gian công tác ở Văn phòng Tổng cục Chính trị, tôi cùng sinh hoạt một tổ Đảng với ông. Có lần, kiểm điểm đảng viên cuối năm 1989. Đến lượt tôi tự kiểm điểm để tổ Đảng đóng góp ý kiến. Ông Đặng Vũ Hiệp đã góp ý là: “Tôi thấy đồng chí là cán bộ có năng lực, hăng hái, nhanh nhẹn, thẳng thắn, bộc trực. Thẳng thắn, bộc trực thì tốt, nhưng ở đời cái gì cũng vậy, thái quá bất cập. Cần lưu ý điều chỉnh để có phương pháp ứng xử phù hợp hơn. Đừng để mất lòng mà hỏng việc. Cán bộ công tác ở Văn phòng càng phải chú ý điều này”. Ngẫm kỹ, tôi thấm thía những điều góp ý chân thành, thẳng thắn của ông.
Lần khác, nhân sự kiện chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ông hỏi tôi, cậu thử nói nguyên nhân từ đâu. Tôi trả lời ông, rằng: “Theo tôi, ngoài nguyên nhân muôn thuở là do địch chống phá, thì cần phải xem xét lại, nguyên nhân chính là từ bên trong. Như Các Mác từng nói, cái gì hợp lý thì nó tồn tại; còn cái gì không tồn tại được, chứng tỏ nó chưa hợp lý”. Tự tin hăng hái trả lời xong, nghĩ lại, tôi sực giật mình hú vía, vì lo lắng rằng, ông sẽ quy kết cho tôi là dao động lập trường, có tư tưởng xét lại, lung lạc niềm tin. Ấy vậy mà, nghe xong, ông cười nói, cậu nói đúng! Đó cũng là một trong những nguyên nhân. Điều ấy chứng tỏ ông đại lượng, vị tha; tôn trọng ý kiến của người khác, dù là cấp thấp; khuyến khích tự do tư tưởng, không áp đặt, định kiến hẹp hòi.
Trong đời sống cũng như trong công việc, ông Đặng Vũ Hiệp là con người nghĩa tình. Tháng 4-1994, tôi cùng ông lên Điện Biên Phủ để kiểm tra việc chuẩn bị về mặt chính sách (nghĩa trang liệt sĩ, bia kỷ niệm) phục vụ cho Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954 / 7-5-1994). Ông cùng tôi đến từng nghĩa trang, bia kỷ niệm, xem xét việc tu bổ từng khu mộ liệt sĩ.
Hồi đó, có một trung đoàn công binh làm đường vào tu sửa Chỉ huy sở Mường Phăng, cách trung tâm Điện Biên 38 cây số. Khi trung đoàn công binh đang thi công đường vào Chỉ huy sở, thì đường bị sụt lở bất ngờ, một chiếc xe chở bộ đội bị đổ xuống vực. Đêm đã khuya, đang ngủ tại Sư đoàn 379, biết tin, ông Hiệp giao tôi vào xem xét tận hiện trường, cách đó hơn chục cây số. Sau khi cùng đơn vị khâm liệm mấy anh em hy sinh do đổ xe xuống vực, tôi trở về đến chỗ nghỉ, thì trời vừa rạng sáng. Nghe tôi báo cáo lại, ông Hiệp nói, thương anh em quá, vì lịch sử lại phải hy sinh. Cơ quan và đơn vị cần lo liệu việc này thật chu đáo, phải thông báo và giải quyết kịp thời quyền lợi chính sách đối với gia đình anh em. Tôi biết, cả đêm ông không ngủ.
Vào giữa năm 1993, khi Ban Bí thư Trung ương Đảng nghe Tổng cục Chính trị báo cáo về việc tìm kiếm, cất bốc, quy tập mộ liệt sĩ hy sinh trong các cuộc chiến tranh. Là Cục trưởng Cục Chính sách, tôi trở thành phụ tá cho ông Đặng Vũ Hiệp trong buổi báo cáo với Ban Bí thư. Trước khi hội nghị thảo luận, Tổng Bí thư nêu một số vấn đề chính cần xem xét.
Ông nói đại ý rằng: Cuộc chiến tranh quyết liệt, lâu dài để lại những hậu quả to lớn. Mộ liệt sĩ là vấn đề chính trị, xã hội, đạo lý, tâm linh hết sức sâu sắc. Càng về sau càng khó khăn, phức tạp, bức xúc. Chúng ta phải tính toán thật kỹ để khẩn trương làm cho tốt. Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn và Nghĩa trang Liệt sĩ Đường 9 ở Quảng Trị có đến hàng vạn ngôi mộ. Thân nhân liệt sĩ vào thăm viếng là một nhu cầu chính đáng, hợp tình. Phải bố trí đón tiếp chu đáo. Việc di chuyển mộ liệt sĩ về nguyên quán có làm được không. Lại hàng vạn bộ hài cốt hồi hương. Các nghĩa trang đã xây dựng rồi để trống à. Đưa về quê có đất xây nghĩa trang không. Như tỉnh Thái Bình chẳng hạn, lấy đất đâu. Nghĩa là, có rất nhiều vấn đề đặt ra. Về chính sách, đến nay Đảng và Nhà nước ta chưa có một hình thức khen thưởng xứng đáng và chưa có một chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những bà mẹ đã hiến dâng nhiều người con cho Tổ quốc.
Tổng Bí thư Đỗ Mười vừa đi vòng quanh bàn hội nghị, vừa phát biểu vừa như thể tiếp tục suy nghĩ, xem xét. Trong lúc đó, ông Đặng Vũ Hiệp nói xen vào: “Thưa, Tổng Bí thư nói đúng! Vấn đề này bức xúc lắm. Bản thân tôi có người em út tên là Đặng Vũ Tân, hy sinh ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Từ ngày báo tử, bao nhiêu năm rồi mẹ tôi vẫn đắp cái chăn là di vật của em Tân. Đến ngày mẹ tôi từ trần, gia đình chúng tôi lấy cái chăn ấy khâm liệm cho cụ. Khi mẹ tôi còn sống, cứ mỗi lần tôi về, cụ nói mà như trách cứ tôi rằng, con làm tướng mà không tìm được mộ em con đưa về đây cho mẹ, thì nói làm gì”. Nghe vậy, Tổng Bí thư nói: “Đúng đấy! Cụ mắng cậu là phải. Ở bất cứ nơi đâu, người mẹ liệt sĩ nào cũng vậy thôi. Chính các mẹ là người hy sinh lớn nhất”. Quả thực, từ hội nghị đó, sự nung nấu của Tổng Bí thư hình thành nên ý tưởng xây dựng Đề án chính sách “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Là cán bộ mấy chục năm làm công tác Đảng, công tác chính trị, mặc dù được đào tạo cơ bản, nhưng ông không hề có học hàm, học vị. Tuy nhiên, theo cảm nghĩ của chúng tôi, ông xứng đáng được tôn vinh là bậc thầy của nhiều thầy trên lĩnh vực lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Ông thường nói vui với chúng tôi, tớ chỉ có cái đầu bạc này thôi. Nhưng tôi nghĩ rằng, trong cái đầu bạc của ông là một khối lượng kiến thức uyên thâm, sắc sảo trên nhiều lĩnh vực. Ông từng chủ trì nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng. Ông là Chủ nhiệm Chương trình cấp Nhà nước: “Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị” mang mã số: KXB 96, trong đó có 10 Đề tài từ KXB 96-01 đến KXB 96-10.
Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp từ trần ngày 11-4-2008, do căn bệnh ung thư gan. Năm 2023, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Được làm cấp dưới trực tiếp của ông trong nhiều năm, với tôi là một điều may mắn. Những điều tôi biết và viết mới chỉ là một phần rất nhỏ trong cuộc đời phong phú, sinh động của ông.











