Những nền kinh tế lớn có tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình cao nhất, châu Á vắng bóng
Thụy Điển đứng đầu bảng xếp hạng về tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình. Trong khoảng 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm ròng tại nước này đã tăng gần 8 lần, từ 2,3% lê...
Theo dữ liệu mới nhất của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đồ họa dưới đây xếp hạng các nền kinh tế lớn theo tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình. Số liệu cho thấy khoảng cách đáng kể giữa nhóm có mức tiết kiệm cao nhất và những nơi người dân gần như không tiết kiệm.

Tỷ lệ tiết kiệm ròng của hộ gia đình là tỷ lệ thu nhập khả dụng mà các hộ gia đình giữ lại sau khi đã chi tiêu và trừ phần khấu hao tài sản.
Thụy Điển đứng đầu bảng xếp hạng về tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình. Trong khoảng 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm ròng tại nước này đã tăng gần 8 lần, từ 2,3% lên 16%.
Nhiều quốc gia châu Âu khác cũng nằm trong nhóm dẫn đầu. Tại Hungary, các hộ gia đình tiết kiệm được 14,3% thu nhập, trong khi tỷ lệ này tại Pháp là 12,8%. Mức tiết kiệm cao này thường gắn với các yếu tố mang tính cấu trúc như hệ thống lương hưu và xu hướng già hóa dân số.
Xuống nhóm giữa bảng xếp hạng, tỷ lệ tiết kiệm giảm khá nhanh. Mỹ, Canada và Anh đều chỉ quanh mức 5%, thấp hơn đáng kể so với nhóm dẫn đầu ở châu Âu. Nếu so trên phạm vi toàn cầu, chênh lệch này còn rõ hơn. Tỷ lệ tiết kiệm của các hộ gia đình Mỹ chỉ bằng khoảng một nửa so với Mexico và chưa bằng 1/3 so với Thụy Điển.
Một điểm đáng chú ý là châu Á không có đại diện nào trong nhóm dẫn đầu về tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình. Tại Nhật Bản, tỷ lệ này chỉ đạt 0,9%, thuộc nhóm thấp nhất trong bảng xếp hạng, trong khi Hàn Quốc ở mức 4,8%, cao hơn nhưng vẫn cách khá xa nhóm đứng đầu tại châu Âu. Điều này cho thấy ngay cả ở những nền kinh tế phát triển của châu Á, dư địa để hộ gia đình tích lũy cũng không còn quá lớn.
Ở cuối bảng xếp hạng, bức tranh hoàn toàn khác. Tại New Zealand và Nam Phi, các hộ gia đình gần như không còn tiết kiệm, mà ngược lại đang chi tiêu vượt quá thu nhập kiếm được.
Tỷ lệ tiết kiệm âm thường cho thấy người dân phải dùng tới khoản tích lũy trước đó hoặc vay nợ để trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày. Đây thường là dấu hiệu của áp lực tài chính, thay vì một lựa chọn chủ động.
Vì vậy, tỷ lệ tiết kiệm là một chỉ báo quan trọng về khả năng chống chịu tài chính của hộ gia đình. Ở những quốc gia có mức tiết kiệm cao, người dân thường có bộ đệm tốt hơn để ứng phó với lạm phát, thất nghiệp hoặc các cú sốc kinh tế. Mức tiết kiệm cao cũng góp phần hỗ trợ đầu tư dài hạn và ổn định kinh tế.
Ngược lại, tỷ lệ tiết kiệm thấp kéo dài hoặc rơi vào vùng âm có thể phản ánh sức ép tài chính âm ỉ trong nền kinh tế. Khi các hộ gia đình gần như không còn dư địa để dành, nền kinh tế cũng dễ tổn thương hơn trước suy thoái, nợ gia tăng và tiêu dùng suy yếu theo thời gian.











