Những người mẹ 'hai vai' ở Thụy An
Ở Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An, có những người phụ nữ vừa đứng lớp,vừa chăm lo cho học viên trong từng bữa ăn, giấc ngủ và những sinh hoạt thường ngày. Họ dạy chữ, dạy nghề, kiên nhẫn cùng các em tập những kỹ năng tưởng chừng nhỏ bé để từng bước tự chăm sóc mình và hòa nhập với cuộc sống.

Chiều thu hanh hao nắng, giữa khuôn viên rợp bóng cây của Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An (Trung tâm Thụy An, xã Quảng Oai, TP. Hà Nội, tiền thân là Trung tâm Phục hồi chức năng lao động con thương binh liệt sĩ), những bước chân chầm chậm của bà lão tuổi 70 vẫn làm chộn rộn một góc sân.
Từ xa, thầy giáo trẻ Nguyễn Đức Hạnh đã reo lên: “Con chào bầm!”.
Tiếng “bầm” thân thuộc ấy theo bà từ những năm tháng còn công tác đến tận hôm nay - khi đã nghỉ hưu. Với nhiều thế hệ học trò ở Trung tâm Thụy An, bà không chỉ là cô giáo cũ.
Bà là Nguyễn Thị Lợi, sinh năm 1957. Sau bốn năm trong quân ngũ, đầu năm 1978, bà về công tác tại Trung tâm Thụy An, khi nơi này mới thành lập được hơn một năm. Cơ duyên bắt đầu từ một người cháu là con liệt sĩ đang được nuôi dưỡng tại trung tâm. Ban đầu, bà định xin việc ở một đơn vị khác. Nhưng trong một lần thăm cháu, bà được giới thiệu lên gặp ban giám đốc, rồi quyết định chuyển hướng - về làm việc tại đây.
Bà Lợi nhớ: “Bấy giờ đầy thiếu thốn, mọi di chuyển đều bằng những chiếc xe đạp cũ kỹ. Chiếc thủng săm chi chít, vá chồng vá chéo, chiếc thì vỡ lốp, được thợ sửa xe lót thêm một lớp cao su bên trong”. Trên những chiếc xe đầy “thương tật” ấy, bà Lợi đã chở nhiều thế hệ học trò của Trung tâm vượt qua đường đất gian khó để đến lớp; xuống phường Sơn Tây tham dự các kỳ thi học sinh giỏi.

Bà giáo Nguyễn Thị Lợi và các cựu học sinh tại Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An.
Ông Đào Xuân Quyền - Phó Giám đốc Trung tâm hiện nay - chính là một trong những “người con” từng được bà Lợi tận tụy đèo bòng qua những năm tháng khó khăn ấy. Bà Lợi nhớ: “Đó là cậu học trò thông minh, học rất giỏi”. Từ những năm tháng ấy, cậu bé Quyền đã gần gũi, quấn quýt và gọi bà là “bầm Lợi”.
Công việc của bà Lợi ở Trung tâm Thụy An không chỉ là dạy môn tiếng Anh. Khi đó, ban đêm không có bảo vệ, cán bộ nhân viên phải thay nhau gác đêm, vừa chăm sóc từng giấc ngủ, miếng ăn cho học sinh khiếm khuyết. Bà Lợi vẫn nhớ những ngày cùng mọi người gánh nước, giặt giũ và quán xuyến từ những công việc nhỏ nhất của trung tâm.
34 năm công tác, bà chứng kiến nhiều thế hệ học trò trưởng thành, có những người quay lại trung tâm làm việc. Nên dù nghỉ hưu đã nhiều năm, các cán bộ, nhân viên của trung tâm vẫn tíu tít gọi bà là “bầm Lợi”, “mẹ Lợi”, “u Lợi”. Những tiếng gọi ấy, qua bao năm tháng, vẫn đủ sức kéo những người đã trưởng thành trở về với một thời thơ ấu ở Thụy An.

Khác với những lớp học thông thường, các phòng học ở Trung tâm Thụy An lắng trong một không gian rất riêng. Ở đó, ngôn ngữ không chỉ cất lên bằng âm thanh, mà được diễn đạt qua ánh mắt, đôi tay cùng sự kiên nhẫn của cả cô và trò.
Tại Khoa Giáo dục đặc biệt, cô Đỗ Thu Trang - người có 4 năm gắn bó với trẻ tự kỷ - đón học trò bằng nụ cười hồn hậu. Nhà ở gần trung tâm, đã ít nhiều biết đến hoàn cảnh của các em nhỏ thiệt thòi, nên ngay từ khi chọn theo học ngành giáo dục đặc biệt, cô Trang đã xác định sẽ mang chuyên môn về hỗ trợ bọn trẻ.
Cô chia sẻ: “Dạy các bạn tự kỷ khó nhất là sự kiên trì. Học sinh bình thường chỉ mất một vài ngày để thuộc bài, nhưng với các con có khi mất cả tháng. Rồi chỉ cần nghỉ vài ngày là bài học lại trôi đi, cô trò lại phải lặp đi lặp lại từ đầu”.
Nhưng mỗi sự thay đổi âm thầm của bọn trẻ đều là một niềm vui vô giá đối với cô. “Con biết tự đánh răng, rửa mặt, tự mặc áo, hay đơn giản là biết nhận diện nguy cơ để không làm tổn thương chính mình; chỉ cần các con tự chăm sóc được bản thân, đó đã là một bước tiến lớn”, cô Trang xúc động nói.

Cô giáo Đỗ Thu Trang (góc phải) lặng lẽ đứng dưới sân khấu, hướng dẫn từng động tác trong tiết mục văn nghệ của học sinh tự kỷ.
Tình yêu thương không lời ấy hiện hữu trong từng cử chỉ gắn bó ngây thơ của trẻ. Tình cảm nhất là bé An 6 tuổi, nhà ở xã Khánh Thượng, cách Trung tâm gần 30km nhưng sáng nào mẹ cháu cũng đưa đến Trung tâm và chiều tối đón về. Những buổi học ở trường, An quấn cô Trang không rời. Hễ thấy cô ngồi xuống là cậu sà vào lòng hoặc chạy đến đấm lưng cho cô.
Cậu bé cũng hay dỗi hờn, ê ê phản đối. Nhưng chỉ một thoáng sau đã quay sang ôm, đôi tay nhỏ vừa giữ chặt cánh tay cô vừa dụi đầu tìm hơi ấm.
Lớp học của cô Đỗ Thị Sáu lại mang một sắc thái và nhịp điệu khác. Gắn bó với Thụy An suốt 13-14 năm, cô Sáu phụ trách 2 lớp học, mỗi lớp gồm 20 học sinh khiếm thính. Để truyền đạt một câu nói hay bài giảng, cô phải kết hợp linh hoạt đa ngôn ngữ: vừa nói, vừa viết, vừa sử dụng ngôn ngữ ký hiệu.
Sự gắn bó của cô Sáu với Trung tâm Thụy An là một nhân duyên. Năm 13 tuổi, cô từ Thái Nguyên về xã Quảng Oai sống cùng cậu mợ. Lớn lên ngay bên cổng trung tâm, học chung phổ thông với những người bạn khuyết tật, hình ảnh những đứa trẻ đặc biệt đã khắc sâu trong tâm trí cô. Sau khi tốt nghiệp đại học ngành giáo dục đặc biệt và làm việc ở phố một năm, cô quyết định trở về Thụy An đứng lớp, đồng hành với những học sinh có hoàn cảnh và khả năng khác nhau, trong môi trường mà việc dạy học không tách rời những công việc thường ngày.
Cô Sáu đã quen với những ngắt quãng khi trò chuyện cùng khách; cô vừa đáp lời, vừa nhắc học sinh ngồi đúng chỗ, để ý các em trong lớp và giải quyết những va chạm nhỏ giữa bọn trẻ. Có em hiểu quy tắc nhưng vẫn phải nhắc đi nhắc lại; có em mới đến chưa quen nề nếp sinh hoạt chung. Nên công việc của cô không chỉ là truyền đạt bài học mà còn là giúp từng em dần thích nghi với môi trường mới.

Cô Đỗ Thị Sáu hướng dẫn học sinh cách đi mua hàng ở siêu thị.
Lớp học của cô Sáu hội tụ trẻ em từ khắp các tỉnh phía Bắc, hầu hết đều xa xôi. Cha mẹ các em vất vả, chịu nhiều áp lực cả về kinh tế lẫn tinh thần; nên các em ở nội trú cả năm, Tết mới về nhà. Thời gian các em gắn bó với cô giáo, với Trung tâm còn nhiều hơn bên cha mẹ ruột. Nhìn nét ngây thơ của học trò, cô lại càng thương. Những lúc các em nổi giận, tranh cướp đồ hay chưa hiểu quy tắc, cô Sáu lại kiên nhẫn vỗ về, nhắc nhở.
Niềm hạnh phúc của cô đôi khi chỉ đơn giản là khi chứng kiến học trò biết yêu thương nhau: anh lớn biết nhường ghế cho em nhỏ, biết cõng em hay bảo vệ bạn trong lớp.
“Trẻ con ở đây hồn nhiên lắm. Các em cũng có những mối quan hệ rất giống một gia đình. Các em có thể giận nhau, tranh giành hoặc nghịch ngợm, nhưng rồi lại chia sẻ đồ dùng, giúp đỡ những em nhỏ hơn. Mỗi đứa trẻ đều có một nét đáng yêu riêng”, cô Sáu nói.
Nếu có ai hỏi nơi nào khiến em thay đổi nhiều nhất trong cuộc đời, em sẽ nói đó là Trung tâm Thụy An. Ngày đầu đến đây, em đã khóc vì sợ hãi, vì thấy mình khác biệt và nghĩ rằng mình không làm được gì.
Nhưng chính nơi đây, thầy cô đã kiên nhẫn dạy em không chỉ kiến thức mà cả cách đứng dậy sau những lần thất bại. Mỗi khi em nản lòng, thầy cô lại nhẹ nhàng động viên: “Không sao đâu, con làm lại nhé”. Những lời nói giản dị ấy cùng tình bạn sẻ chia đã giúp em mạnh mẽ hơn, biết vui trước thành công của mình và của người khác.
Em nhớ nhất lần đầu tự làm được điều tưởng chừng không thể. Nụ cười của thầy cô, tiếng vỗ tay của bạn bè khiến em bật khóc vì hạnh phúc, vì lần đầu tin rằng mình cũng có thể làm được.
Với em, Trung tâm Thụy An không chỉ là nơi điều trị, mà còn là nơi chữa lành trái tim, trao niềm tin, hy vọng và tình yêu thương.
- Cựu học sinh Dương Minh Ngọc -

Sau những sản phẩm may chỉn chu của học sinh lớp may là hành trình 18 năm của cô giáo Phan Thị Yến. Tốt nghiệp ngành thiết kế thời trang, từng làm việc ở một công ty may nổi tiếng, có hiệu may riêng và dạy nghề tại một số cơ sở, cô Yến tưởng mình đã có đủ kinh nghiệm để đứng lớp.
Nhưng Trung tâm Thụy An là một môi trường hoàn toàn khác. “Tháng đầu tiên tôi đã muốn nghỉ. Một là không biết ngôn ngữ, hai là cách dạy cũng khác hẳn”, cô nhớ lại.
Trước đây, cô đến lớp đúng giờ, dạy hết tiết rồi về. Nhưng ở đây, cô phải làm quen với nhịp sinh hoạt của học sinh - cô thường xuyên phải đi tìm, gọi học trò đến lớp; tìm cách truyền đạt từng thao tác may cho những em không thể giao tiếp bằng lời nói. Có những lúc cô trò bất đồng, phải kiên nhẫn làm đi làm lại một công đoạn.

Cô Phan Thị Yến (bìa phải) dạy các em học may bằng ngôn ngữ ký hiệu.
Cô Yến học ngôn ngữ ký hiệu từ chính học trò. Qua từng thế hệ, các em chỉ cho cô cách ghép chữ và cách giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày. Cô cũng tham gia những buổi tập huấn ngôn ngữ ký hiệu dành cho giáo viên, nhưng việc thực hành với học trò mỗi ngày giúp cô hiểu hơn cách các em giao tiếp.
Trong xưởng, để hoàn thành một con thú nhồi bông, học trò của cô phải cắt vải, may, gắn tai, mắt, nhồi bông rồi khâu kín sản phẩm. Mỗi em đảm nhiệm một phần việc phù hợp. Những thao tác tưởng đơn giản với người đã quen nghề lại đòi hỏi sự kiên trì của cả cô lẫn trò trong suốt quá trình học.
Tùng, 22 tuổi, khi mới đến trung tâm, Tùng khóc suốt 2 tháng, chỉ đòi về nhà. Sau thời gian làm quen với môi trường nội trú, em đã có thể thực hiện những công đoạn may đơn giản và chơi với các bạn. Hoàng, 16 tuổi, mới học nghề khoảng hai năm nhưng được cô Yến nhận xét là tiếp thu nhanh, đôi tay khéo léo.

Hoàng, 16 tuổi, mới học nghề khoảng hai năm nhưng được cô Yến nhận xét là tiếp thu nhanh, đôi tay khéo léo.
Niềm vui của cô Yến không chỉ nằm ở những sản phẩm hoàn thành trong lớp. Cô Yến chia sẻ: “Nhiều em ra nghề, trở về quê rồi vẫn gọi điện, nhắn tin hỏi thăm cô, kể chuyện công việc và đời sống. Thu nhập khởi điểm của các em tại các xưởng may địa phương khoảng 4-5 triệu đồng/tháng. Có nhiều em làm việc tại các công ty may công nghiệp theo dây chuyền, lương từ 7-10 triệu, thậm chí lên tới 12 triệu đồng/tháng. Các em không chỉ tự nuôi sống bản thân mà còn trở thành trụ cột kinh tế gia đình, hỗ trợ cha mẹ và tích lũy xây dựng tổ ấm riêng”.
Cô Yến khoe: “Đảm và Dâu mới tốt nghiệp nghề may. Đảm về quê Phú Thọ, Dâu về Lào Cai. Tháng Mười (âm lịch) này hai đứa tổ chức đám cưới. Các thầy cô ở Trung tâm đã sắp xếp lịch để sang Phú Thọ dự đám cưới của các con. Chính những thành quả đó của bọn trẻ đã giữ chúng tôi ở lại, gắn bó với nơi này, dù một vai phải đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau”.
Ở lớp mỹ thuật của cô Trần Ngọc Ánh, thử thách có phần khác: làm thế nào để truyền đạt những kỹ thuật đòi hỏi cảm nhận tinh tế cho học trò có khả năng tiếp thu và giao tiếp không giống nhau.
Những chiếc móc khóa, kẹp tóc bằng gỗ hay bức tranh màu nâu trên nền gỗ, nền giấy ở lớp cô Ánh được tạo ra bằng kỹ thuật tranh bút lửa. Người làm phải kiểm soát độ nóng của đầu bút để tạo nên những nét đậm, nhạt; quá tay là giấy có thể cháy. Từ kỹ thuật cơ bản được một nghệ nhân ở Đồng Nai truyền lại, cô Ánh cùng đồng nghiệp tiếp tục thử nghiệm, kết hợp màu sắc, tạo hình nổi và đưa nét vẽ lên những sản phẩm thủ công nhỏ.

Một số sản phẩm của học sinh lớp mỹ thuật.
Tốt nghiệp ngành mỹ thuật công nghiệp, từng làm thiết kế ở Hà Nội, cô Ánh đến Thụy An năm 2019. Ban đầu, cô đăng ký tình nguyện một năm không lương. Trước khi gắn bó với trung tâm, có một trải nghiệm khiến cô nhớ mãi: “Lần đầu chứng kiến học sinh khiếm thính múa trên sân khấu; nhìn những động tác nối tiếp, phối hợp nhịp nhàng của các em - theo tín hiệu của người thầy biên đạo phía dưới, tôi đã khóc. Tôi nhận ra, những học trò đặc biệt này có thể làm được nhiều điều khi tìm được cách hướng dẫn phù hợp”.
Nhưng để biến điều đó thành công việc hằng ngày, cô phải tự tìm cách vượt qua những trở ngại trong lớp học. Với nhiều học viên khiếm thính, những khái niệm như sắc độ đậm nhạt hay cách điều chỉnh lực tay không dễ truyền đạt. Cô học ngôn ngữ ký hiệu, làm mẫu, chia nhỏ từng thao tác và hướng dẫn từng em.
Cô Ánh chia sẻ: “Tôi không thể dạy dàn trải như một lớp học thông thường. Mà phải cầm tay chỉ việc, tùy từng bạn mà hướng dẫn”.
Bình An là một trong những học viên khiến cô nhớ nhất. Khi mới vào trung tâm, em còn hạn chế về kiến thức văn hóa và cách giao tiếp. Nhưng em sớm bộc lộ niềm say mê với hội họa. Giờ giải lao, em tranh thủ chạy sang lớp mỹ thuật, ngồi phác họa cây cối, nhà cửa trong khuôn viên trung tâm rồi lại quay về lớp học. Từ những bức chì ban đầu, Bình An học thêm kỹ thuật bút lửa và làm được tranh phong cảnh. Sau khi rời trung tâm, em vẫn giữ liên lạc với cô Ánh và tiếp tục theo đuổi việc học vẽ.

Cô Ánh cũng dạy vẽ cho học sinh bằng ngôn ngữ ký hiệu.
Với những học viên làm được sản phẩm hoàn chỉnh, tiền công từ việc làm tranh có thể ở mức vài trăm nghìn đồng đến hàng triệu đồng là nguồn động viên thiết thực, giúp các em có thêm khoản tiền phụ giúp gia đình, nhất là dịp Tết.
Cô Ánh rưng rưng: “Điều ý nghĩa hơn cả không chỉ là sản phẩm bán được hay số tiền các em nhận về. Đó còn là lúc cha mẹ nhìn thấy con mình có thể kiên trì làm ra một sản phẩm, theo đuổi điều mình yêu thích và từng bước tự lập. Niềm tin của phụ huynh cũng thay đổi khi họ nhìn thấy những khả năng mà trước đây họ chưa từng nghĩ con mình có thể làm được. Với chúng tôi, trái ngọt là khi mỗi học trò có thể tiến thêm một bước vào đời sống, theo khả năng của riêng mình”.
Ở Trung tâm Thụy An, những người mẹ “hai vai” như cô Trang, cô Yến, cô Ánh cùng nhiều đồng nghiệp khác mỗi ngày vừa đứng lớp, vừa chăm lo cho học viên từ những điều nhỏ nhất. Những gì các cô trao truyền - hiện hữu trong đường kim mũi chỉ, bức vẽ… Và còn ở những thay đổi khó đo đếm hơn: một em biết tự chăm sóc mình, một em làm được việc mà trước đây phải nhờ người khác, hay một học sinh rời trung tâm vẫn tiếp tục theo đuổi nghề đã học…
Với các cô, công việc không dừng lại khi tan lớp; đó là hành trình kiên nhẫn đồng hành để mở ra một cơ hội, giúp mỗi học trò có thể tiến thêm một bước vào đời sống, theo khả năng của riêng mình.

Không nghe được âm thanh, nhưng đội múa của Trung tâm Thụy An thường xuyên giành giải cao trong các cuộc thi.
Với em, chiếc xe lăn không phải rào cản, mà là người bạn đồng hành từ thuở nhỏ. Bước ngoặt cuộc đời là khi em đến Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An, nơi trở thành ngôi nhà thứ hai đầy yêu thương.
Những ngày đầu nội trú xa gia đình, em từng khóc vì nhớ nhà, tủi thân. Nhưng cái nắm tay của bạn bè, sự chăm sóc ân cần của các cô - những người mẹ thứ hai - cùng sự kiên nhẫn dìu dắt qua từng buổi tập đã giúp em hiểu rằng: Ở Thụy An, mình không hề cô đơn.
Ở đây, em không chỉ thay đổi, mà còn thắp lên hy vọng, trở thành điểm tựa để em tiếp tục vươn lên trong cuộc sống.
Nguồn Trẻ em Việt Nam: https://treemvietnam.net.vn/nhung-nguoi-me-hai-vai-o-thuy-an-d10416.html
