Những tác động mà người lao động tự do gánh chịu bởi biến đổi khí hậu
Mặc dù 89,4% lao động tự do ngoài trời nhận thức rõ sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết, nhưng chỉ 1,4% có thể chuyển đổi công việc. Áp lực mưu sinh khiến họ buộc phải đánh cược sức khỏe của mình dưới nắng nóng, mưa bão, đối mặt với nguy cơ bệnh tật hiện hữu và sự thiếu hụt các mạng lưới an sinh xã hội.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang giáng những đòn nặng nề lên nhóm lao động tự do làm việc ngoài trời tại các đô thị lớn. Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo vừa diễn ra tại Hà Nội nhằm chia sẻ kết quả nghiên cứu “Tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe của một số nhóm lao động tự do làm việc ngoài trời tại các đô thị lớn ở Việt Nam”.

Hội thảo có sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhà quản lý và người lao động tự do
Nghiên cứu do Tổng hội Y học Việt Nam chủ trì, phối hợp với Viện Phát triển Sức khỏe cộng đồng Ánh sáng (LIGHT), Viện Y học ứng dụng Việt Nam (VIAM) thực hiện tại 4 thành phố: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, với quy mô khảo sát hơn 1.200 lao động tự do, cho thấy thực trạng đáng báo động về sức khỏe và sinh kế của nhóm yếu thế này.
Chia sẻ về việc thực hiện nghiên cứu, TTND.PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, cho biết theo ước tính, hiện nay Việt Nam có khoảng 33 triệu lao động phi chính thức, chiếm hơn 50% tổng số người lao động. Nhóm lao động phi chính thức/tự do gồm nhiều nhóm người như bán hàng rong, xe ôm/giao hàng, xây dựng, vệ sinh, thu gom phế liệu, bốc vác, nông/ngư nghiệp.
Biến đổi khí hậu gây ra ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí, gia tăng các chất thải nguy hiểm, làm tăng các bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái nổi. Biến đổi khí hậu cực đoan cũng gây ra nắng nóng bất thường, bão lũ, nước biển dâng, xâm nhập mặn, làm thay đổi môi trường sống, ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Điều đó không những gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, nhất là sức khỏe của những người lao động tự do ngoài trời.

TS. Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ nội dung rà soát chính sách về biến đổi khí hậu và sức khỏe của lao động tự do làm việc ngoài trời
“Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2.2024 đến 9.2026 nhằm xác định và mô tả các chính sách lao động, y tế, khí hậu và môi trường hiện hành ở Việt Nam có liên quan đến sức khỏe của người lao động tự do ngoài trời trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Qua phân tích các thách thức trong quá trình thực thi, xác định những khoảng trống chính sách, đề xuất các cải cách chính sách có trọng tâm nhằm bảo vệ sức khỏe của nhóm lao động này”, bà Nguyễn Thị Xuyên nói.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong vòng 12 tháng tính đến thời điểm khảo sát, có tới 95,4% người lao động phải phơi mình dưới nắng nóng, 71,0% tiếp xúc với mưa lớn và 38,7% làm việc hoặc cư trú trong điều kiện ngập lụt, giông bão có sức gió từ cấp 8 trở lên.
Đáng chú ý, các rủi ro này hiếm khi tấn công đơn lẻ, có 55,6% người lao động phải đối mặt đồng thời với 6-10 yếu tố nguy cơ. Thậm chí, 29,1% tiếp xúc với 11-15 yếu tố. Với thời gian mưu sinh trung bình lên tới 8,7 giờ/ngày và 55,3 giờ/tuần, mức độ phơi nhiễm môi trường của nhóm này luôn ở ngưỡng rất cao.
Hệ lụy từ môi trường làm việc khắc nghiệt đã hằn rõ lên sức khỏe của người lao động. Trong vòng 1 tháng trước thời điểm khảo sát, 68,5% người lao động gặp ít nhất một triệu chứng cơ - xương - khớp và 23,7% gặp vấn đề hô hấp.
Tỉ lệ mắc các bệnh mạn tính và cấp tính trong 12 tháng cũng rất đáng ngại, với 19,2% mắc bệnh cơ - xương - khớp, 8,0% bệnh tiêu hóa và 7,2% bệnh tim mạch.
Không chỉ thể chất, sức khỏe tâm thần cũng bị bào mòn. Đánh giá bằng thang đo DASS-21 cho thấy 32,8% người tham gia có biểu hiện lo âu và 17,8% gặp căng thẳng. Nỗi lo của họ không chỉ dừng lại ở thời tiết mà còn là sự ám ảnh về việc giảm thu nhập, chi phí khám chữa bệnh và nguy cơ đứt gãy nguồn sống của gia đình.
Đặc biệt, tỉ lệ có vấn đề sức khỏe tâm thần tăng vọt từ 20,4% (nhóm tiếp xúc 0-5 yếu tố nguy cơ) lên 54,5% ở nhóm tiếp xúc trên 15 yếu tố.

TS.BS Nguyễn Thu Giang đề xuất các chính sách về chăm sóc sức khoẻ cho người lao động tự do
Đại diện Viện LIGHT, TS.BS Nguyễn Thu Giang nhấn mạnh, sự dễ bị tổn thương của nhóm này càng bị khoét sâu bởi những rào cản kinh tế - xã hội. Trong số những người tham gia nghiên cứu, 58,8% là người tạm trú, 60,7% sống trong nhà trọ thuê mướn và chỉ 8,7% từng qua đào tạo nghề. Khoảng trống an sinh rất lớn khi có tới 25,8% chưa có BHYT và tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện chạm đáy ở mức 2,2%.
Áp lực sinh kế khiến việc chăm sóc sức khỏe trở thành thứ yếu. Trong số những người bị bệnh cơ - xương - khớp không đi khám, 52,6% cho biết họ tiếc thời gian đi làm và 26,3% bị cản trở bởi gánh nặng tài chính.
Nghiên cứu đã chỉ ra một “điểm mù” lớn trong hệ thống quản lý: các chuyên gia rà soát 45 văn bản pháp luật, chiến lược liên quan cho thấy chưa có văn bản nào tích hợp đồng thời cả ba nội dung là thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và an sinh xã hội cho nhóm lao động tự do làm việc ngoài trời.

Người lao động tự do rất cần những chính sách hỗ trợ để đảm bảo sức khoẻ
Họ đang rất cần những hỗ trợ thiết thực như 78,0% mong muốn được hỗ trợ tham gia/duy trì BHYT; 76,2% cần hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh tại y tế cơ sở; 71,1% mong muốn có điểm nghỉ công cộng tránh nắng/mưa; 49% lao động mong muốn có cơ hội chuyển đổi sang công việc an toàn hơn.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa 49% mong muốn chuyển đổi công việc và thực tế chỉ 1,4% làm được điều này đã minh chứng cho sự bế tắc của người lao động.
Từ thực trạng này, các chuyên gia đề xuất cần nhận diện rõ lao động tự do ngoài trời là một nhóm dễ bị tổn thương trong các chiến lược BĐKH. Cần khẩn trương xây dựng hướng dẫn an toàn lao động đặc thù, tăng khả năng tiếp cận BHYT, BHXH, chăm sóc sức khỏe ban đầu và thí điểm các trạm nghỉ tránh nóng, mưa tại những khu vực tập trung đông lao động.
Bảo vệ sức khỏe cho nhóm lao động này không đơn thuần là trách nhiệm y tế. Chuỗi tác động từ phơi nhiễm khí hậu đến sức khỏe, thu nhập và khả năng thích ứng cho thấy bảo vệ họ chính là khoản đầu tư sống còn cho nguồn nhân lực, năng suất lao động và sự phát triển bền vững của Việt Nam.

