Những thành phố đi qua văn chương
Giữa những thành phố ngày càng cao hơn, sáng hơn và vội vã hơn, người ta vẫn tìm về văn chương như tìm về một căn phòng hay cuốn phim cũ lưu giữ ký ức. Ở đó còn tiếng rao đêm, còn mái ngói cũ, còn quán nước đầu ngõ và những khu tập thể đã phai màu thời gian…
Có những lúc người ta chợt nhận ra thành phố mình đang sống đã khác đi rất nhiều. Một con ngõ quen biến mất để mở đường. Một khu tập thể cũ bị phá dỡ, thay bằng tòa chung cư sáng choang kính thép. Quán trà đá đầu phố từng đầy tiếng chuyện trò giờ nhường chỗ cho một cửa hàng tiện lợi mở xuyên đêm. Người ta vẫn đi qua những con đường cũ mỗi ngày nhưng cảm giác thân thuộc dường như đã lùi xa hơn trước.
Đô thị hóa ở Việt Nam nhiều năm qua thường được nhắc tới bằng những con số tăng trưởng, những bản quy hoạch hay tốc độ xây dựng. Nhưng sâu xa hơn còn là câu chuyện về sự thay đổi của con người. Có lẽ vì thế mà muốn hiểu một đô thị đã đi qua những biến động nào, nhiều khi đọc văn chương lại cho cảm giác rõ ràng hơn cả những báo cáo phát triển.

Ký họa cầu Long Biên của Trần Nam Long.
Từ làng ra phố: cuộc di cư lớn nhất của người Việt
Người Việt vốn là cư dân nông nghiệp. Trong suốt nhiều thế kỷ, làng xã từng là trung tâm của đời sống tinh thần. Đó là nơi có họ hàng, đình chùa, chợ quê, những quan hệ láng giềng bền chặt và một nhịp sống tương đối ổn định. Nhưng từ sau đổi mới, đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng đã tạo nên một cuộc dịch chuyển khổng lồ. Người nông dân rời ruộng đồng đến thành phố làm công nhân, buôn bán, lao động dịch vụ. Nhiều vùng ven đô bị cuốn vào cơn lốc mở rộng đô thị. Đất nông nghiệp biến thành khu công nghiệp, khu đô thị mới, trung tâm thương mại.
Từ rất sớm, nhiều nhà tư tưởng phương Tây đã nhìn thấy tính chất đối nghịch giữa nông thôn và đô thị như hai kiểu tồn tại khác nhau của con người hiện đại. Trong Hoàng hôn phương Tây xuất bản năm 1918, triết gia Đức Oswald Spengler cho rằng đô thị giống như một cơ thể khổng lồ không ngừng hút con người từ làng quê về phía mình, rằng thành phố “tham lam và không ngừng nghỉ đòi hỏi lẫn nuốt chửng những dòng thanh niên trai tráng khỏe mạnh”.

Tranh về Hà Nội của họa sĩ Pháp Jean-marc Potlet.
Hơn một thế kỷ sau, cảm giác ấy dường như vẫn còn nguyên sức gợi nếu nhìn vào những biến động xã hội ở Việt Nam. Đằng sau sự mở rộng của các đô thị là những cuộc di cư lớn, những vùng quê đổi khác và cả sự chuyển dịch âm thầm trong tâm thức con người. Người rời làng ra phố thường mang theo ký ức của đời sống cũ, trong khi chính quê hương của họ cũng đang dần biến dạng dưới áp lực đô thị hóa.
Những chuyển động ấy được ghi lại rất rõ trong văn xuôi Việt Nam sau 1986. Người nông dân bước vào văn học thời kỳ này không còn mang dáng vẻ của những con người “bám đất bám làng” như trước. Họ đứng giữa những biến động dữ dội của thời cuộc, mất dần điểm tựa cũ và phải học cách tồn tại trong một trật tự mới.
Lật mở Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), người đọc bắt gặp một làng quê đã không còn giữ được vẻ yên bình của ký ức truyền thống. Còn Giang Minh Sài của Thời xa vắng (Lê Lựu) lại mang tâm trạng của cả một thế hệ đứng giữa sự đổ vỡ của những hệ giá trị cũ...
Đọc những tác phẩm ấy hôm nay người ta dễ nhận ra đây không còn đơn thuần là câu chuyện nông thôn. Đó là những biểu hiện đầu tiên của một xã hội đang đô thị hóa mạnh mẽ.
Từ Hà Nội cổ điển tới Hà Nội ngột ngạt
Nếu văn xuôi hậu đổi mới ghi lại một nông thôn đang rạn vỡ dưới áp lực đô thị hóa thì Hà Nội trong văn chương giống như một lớp trầm tích ký ức, nơi nhiều thời đại vẫn chồng lấn lên nhau trong cùng một không gian sống. Đọc Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam, người ta dễ bị níu lại bởi những điều rất nhỏ, như một gánh phở rong trong đêm lạnh, mùi cốm mới, tiếng rao hàng hay nhịp sống thong thả của phố cổ. Song chỉ cần đi thêm vài chục năm trong dòng chảy văn chương, nhịp điệu thành phố đã khác đi rất nhiều.
Qua những trang viết của Tô Hoài, vùng ven Hà Nội bước vào văn chương với tâm thế của một cộng đồng đang đứng trước biến động lịch sử. Bộ ba Quê người, Mười năm, Quê nhà ghi lại quá trình một không gian làng xã dần bị cuốn vào nhịp vận động của đô thị. Người dân mất đi không gian sống quen thuộc, còn những giá trị cũ thì lung lay trước biến động thời đại.
Những gì sót lại của một nhịp sống thong thả của phố cổ Hà Nội từng được Thạch Lam đưa vào Hà Nội băm sáu phố phường. Ảnh: Tuấn Guitar
Sau 1986, Hà Nội bước vào thời kỳ kinh tế thị trường với những nhịp sống mới, những cơ hội mới và cả những khủng hoảng mới. Nguyễn Việt Hà nhìn thành phố qua Cơ hội của Chúa hay Khải huyền muộn bằng một tâm thế đầy hoang mang trước cơn lốc thị trường. Những trí thức, nhà báo, doanh nhân hay nghệ sĩ trong tiểu thuyết của ông đều bị cuốn vào vòng xoáy tiêu dùng, tiền bạc và tham vọng cá nhân.
Vẻ thanh lịch hoài niệm từng gắn với Hà Nội dường như đã lùi xa. Thay vào đó là một đô thị mất cân bằng, nơi con người sống chen chúc giữa phố xá đông đúc nhưng vẫn mang cảm giác cô đơn. Những quán cà phê cũ, những khu tập thể cũ kỹ hay tiếng rao còn sót lại giữa đêm khuya trở thành dấu vết mong manh của một thành phố đang đổi khác quá nhanh.
Những người đi nhặt ký ức thành phố
Điều thú vị là cùng với những tiểu thuyết phản ánh các xung đột dữ dội của đô thị hóa, văn học Việt Nam gần đây còn xuất hiện một dòng tản văn đô thị rất đặc biệt. Ở đó các nhà văn giống như những người đi nhặt nhạnh ký ức thành phố trước khi chúng biến mất.
Có một Hà Nội đang già đi rất nhanh trong văn chương đương đại. Đó là thành phố của những khu tập thể chờ phá dỡ, những mái ngói cũ lùi dần sau cao ốc kính thép, những hàng cây quen thuộc bỗng một ngày biến mất. Đỗ Phấn là một trong những người viết nhiều về cảm thức này. Điều khiến người đọc day dứt trong các trang văn của ông không nằm ở sự thay đổi kiến trúc vật lý mà ở cảm giác một phần ký ức cộng đồng đang bị xóa đi cùng các không gian cũ.
Muốn hiểu một đô thị đã đi qua những biến động nào, nhiều khi đọc văn chương lại cho cảm giác rõ ràng hơn cả những báo cáo phát triển.
Nguyễn Ngọc Tiến thì lại đi chậm qua Hà Nội bằng ánh nhìn của một người tản bộ. 5678 bước chân quanh hồ Gươm, Đi dọc Hà Nội hay Đi ngang Hà Nội đều mang nhịp điệu của một cuộc đi bộ chậm rãi giữa thành phố. Theo từng bước chân quan sát của Nguyễn Ngọc Tiến, đô thị được nhìn từ những điều nhỏ bé và đời thường nhất.
Một người khác, Nguyễn Trương Quý, lại nhìn Hà Nội như một cấu trúc ký ức nhiều tầng lớp và truy vấn những câu hỏi rất thú vị, như điều gì làm nên bản sắc của một thành phố? Khi một đô thị thay đổi quá nhanh, liệu bản sắc cũ có mất đi hoàn toàn?...
Có lẽ đây cũng là điều khiến văn chương đô thị trở nên quan trọng. Nó giúp lưu giữ những gì dễ bị lãng quên nhất trong quá trình phát triển. Một thành phố thay đổi diện mạo vật lý rất nhanh nhưng sự thay đổi trong đời sống tinh thần của cư dân thường diễn ra âm thầm hơn nhiều.

Bìa cuốn 5678 bước chân quanh hồ Gươm của Nguyễn Ngọc Tiến.
Đi qua thành phố, đi qua ký ức
Đô thị hóa chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của nhà cao tầng, những tuyến đường mở rộng hay các vùng sáng đèn trên bản đồ quy hoạch. Sâu xa hơn đó là sự thay đổi trong cách con người sống, gặp gỡ nhau và cảm nhận về nơi mình thuộc về. Có những người cả đời ở giữa phố xá đông đúc mà vẫn thấy mình như một kẻ tạm trú vong thân. Cũng có những người đã rời quê từ rất lâu nhưng trong ký ức vẫn thấp thoáng một bờ ao mùa hạ, một sân đình chiều muộn hay con đường đất nhỏ dẫn ra cánh đồng.
Văn chương Việt Nam hiện đại đã lưu giữ rất nhiều tâm trạng như thế. Những thành phố đi qua trang sách không phải lúc nào cũng mang vẻ đẹp lãng mạn. Có nơi ngột ngạt và xô lệch trong cơn lốc phát triển. Có nơi chất chứa những mất mát âm thầm khi ký ức cũ dần bị đẩy lùi khỏi đời sống hôm nay. Nhưng cũng chính từ những trang viết ấy, người đọc nhận ra diện mạo tinh thần của xã hội Việt Nam qua nhiều thập niên biến động, nơi con người luôn vừa kiếm tìm một tương lai mới, vừa day dứt trước những gì đang mất đi phía sau lưng mình.
Có lẽ bởi vậy mà giữa những thành phố ngày càng cao hơn, sáng hơn và vội vã hơn, người ta vẫn tìm về văn chương như tìm về một căn phòng hay cuốn phim cũ lưu giữ ký ức. Ở đó còn tiếng rao đêm, còn mái ngói cũ, còn quán nước đầu ngõ và những khu tập thể đã phai màu thời gian. Và biết đâu, trong một trang sách nào đó, mỗi người lại bắt gặp một phần thành phố của riêng mình, phần thành phố đã đổi thay ngoài đời thực nhưng vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức.
TS. Phạm Minh Quân - Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/nhung-thanh-pho-di-qua-van-chuong-53229.html












