Những vòng xòe gây 'nghiện' với người Mường Lò từ trong bụng mẹ
“Bà con ở Mường Lò nghiện xòe từ khi còn trong bụng mẹ. Vì thế, ngày xưa cái bụng dẫu chưa được no nhưng không thể xuân đến không khắp, không xòe...".
Cả thanh xuân gắn với Mường Lò, tôi ngấm xòe Thái như chính người Thái nơi đây. Mỗi năm khi mùa xuân đến, núi rừng Tây Bắc bừng lên màu nắng non tươi. Bao chồi non lộc biếc thẹn thùng nấp sau kẽ lá chờ trận mưa xuân đầu tiên. Đất trời mới chỉ có thế thôi mà lòng người Mường Lò đã thấy xôn xao vấn vít muôn điệu xòe hoa. Bắt đầu từ mùa xuân, xòe hoa đã đi vào tiềm thức tốt đẹp trong đời sống tinh thần người dân Mường Lò Nghĩa Lộ cả bốn mùa hoa trái.

Với đồng bào Thái, xòe không chỉ là nghệ thuật trình diễn mà còn hiện diện trong lễ hội, cưới hỏi và các sinh hoạt quan trọng của bản mường. Ảnh: Tuấn Ninh
Mường Lò, một trong bốn cánh đồng lớn vùng Tây Bắc, nơi cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số, trong đó người dân tộc Thái chiếm đa số. Nhiều nhà nghiên cứu về dân tộc học khẳng định Mường Lò là một trong những cái nôi của người Thái cổ. Bản Xa, Bản Lấm, Ao Sen, Ao Luông, Nậm Tốc Tát, những pho truyện cổ bằng chữ Thái “Quắm Tô mường” (Kể chuyện bản làng); những câu ca dao, dân ca trong trường ca “Xống chụ xôn xao” (Tiễn dặn người yêu), “Khun Lú, Nàng Ủa”; ở đó có biết bao nhiêu tên gọi về những miền xa xôi như những nhân chứng lịch sử được ẩn giấu trong ca dao cổ tích, minh chứng cho dấu hiệu đầu tiên xuất hiện người Thái ở nơi này.
Nói đến người Thái Tây Bắc nói chung và người Thái Mường Lò, đầu tiên là phải nhắc đến nghệ thuật trình diễn dân gian các làn điệu khắp Thái (hát Thái) và những điệu xòe (múa) mang tính cộng đồng. Những câu “khắp” khi bổng khi trầm trao gửi yêu thương, tự sự những cung bậc cảm xúc, sẻ chia nỗi niềm nhân thế cứ tự nhiên tuôn trào trong một không gian đầy nắng, gió.
Những nốt nhạc dân gian trong khắp Thái vút cao trong không trung bằng làn điệu hà ơi da diết mà mềm như nước chảy. Tiếng khắp trong văn vắt, bỗng dưng hạ xuống tận cung trầm. Tưởng như câu khắp đang bị rơi xuống thì một dàn bè những giọng hát thanh tân, hào sảng, kết lại và nâng câu ca từ từ bay lên trong hòa ca. Nghe các anh chị, ông bà và các trai thanh, gái tú hòa giọng ca. Chỉ là người thưởng thức thôi mà tôi đã nắm tay các anh chị hòa vào vòng xòe tự bao giờ chẳng rõ.
Ước tính có đến hơn ba mươi điệu xòe cứ sinh sôi trong đời sống. Xòe vòng, xòe khăn, xòe nón, xòe quạt, xòe sạp, xòe nhạc, xòe chai, xòe hoa… Những điệu xòe biến hóa khôn lường theo hoàn cảnh cụ thể gắn với lao động, địa hình và hoàn cảnh, tâm trạng, trong đó xòe vòng là điệu múa mang ý nghĩa truyền thống và phổ biến nhất của người Thái.
Cùng với “khắp” là những điệu “xòe” kết nối nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, ca từ và những bàn tay nắm ấm áp tình người. Sự kết nối tự nhiên của tình đoàn kết cộng đồng vì thế mà thành tình làng nghĩa bản và kết nối tình yêu lứa đôi. Xòe đồng hành với khắp Thái, với khèn bè và các loại pí (sáo) trở thành nghệ thuật đặc sắc một vùng Tây Bắc hào hoa. Pí thiu, pí pặc, pí ó, pí sên… đan nối bên nhau như bao cung bậc cảm xúc dâng trào.
Tự bao đời, xòe đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của mọi người. Ước tính có đến hơn ba mươi điệu xòe cứ sinh sôi trong đời sống. Xòe vòng, xòe khăn, xòe nón, xòe quạt, xòe sạp, xòe nhạc, xòe chai, xòe hoa… Những điệu xòe biến hóa khôn lường theo hoàn cảnh cụ thể gắn với lao động, địa hình và hoàn cảnh, tâm trạng, trong đó xòe vòng là điệu múa mang ý nghĩa truyền thống và phổ biến nhất của người Thái.
Hàng năm, vào dịp cận Tết, công việc bộn bề. Người ra đồng cấy trồng, người lên nương lấy củi đóm, vào rừng lấy lá dong, lấy lạt giang gói bánh chưng hay làm việc khác trong cuộc mưu sinh; nhưng trong trái tim ai cũng chờ đợi tiếng thập thùng trống hội. Rồi tới gần trưa mùng Một Tết, khắp Mường Lò lại thập thình trống hội. Những cô sơn nữ với áo cóm, khăn piêu thắt đáy lưng ong, uyển chuyển tung cao những tấm thổ cẩm sặc sỡ sắc màu trong những điệu múa mô phỏng trồng bông dệt, vừa đội trên đầu những bông hoa có ngọn lửa hồng, dù có quay nghiêng hay dịu dàng ngồi xuống, lửa vẫn cháy. Họ là chủ nhân của xòe Thái và tiếp tục làm cho những điệu xòe hoa vĩnh cửu với thời gian.
Mùa xuân thập thùng trống hội gắn với những phong tục tập quán, tín ngưỡng vẫn không thiếu xòe hoa. Cúng cây lúa xuống đồng, gọi mùa sinh sôi. Mùa gặt lúa, ăn cơm mới sip xí tháng bảy mát lành sau những trân mưa ngâu.... xòe hoa cùng với mội nhà rộn rã mừng cơm mới. Những đống lửa được đốt lên thơm mùi khói rạ và cỏ khô. Tiếng cười đuổi nhau lan xa, lan xa, như bay lên tận các vì sao trên bầu trời thăm thẳm. Nhịp 4/4, nhịp dồn 2/2/1 xoay tròn những bước chân theo vòng quay xa dệt vải. Dặt dìu, những đôi mắt trao nhau, không lời, quên cả thời gian trôi.
“Bà con ở Mường Lò nghiện xòe từ khi còn trong bụng mẹ”
Hiện nay, nghệ thuật xòe là tài sản vô giá và là sản phẩm văn hóa đặc sắc của văn hóa Thái nói riêng, là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại. Bình dị hàng ngày xòe Thái từ xửa xưa là sân chơi giải trí sau những ngày lao động, là nơi có tầng kết nối để người gần với mọi người hơn.
Cố nghệ nhân dân gian Lò Văn Biến, nghệ nhân dân gian ưu tú ở bản Cang Nà, phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ (cũ) nói rằng: “Bà con ở Mường Lò nghiện xòe từ khi còn trong bụng mẹ. Vì thế, ngày xưa cái bụng dẫu chưa được no nhưng không thể xuân đến không khắp, không xòe. Bây giờ có chính sách cho vùng đồng bào ngày một tốt hơn, xòe càng ngày càng đông, càng vui”…Văng vẳng bên tôi câu nói của người Thái mà ai biết xòe cũng thuộc: “Không xòe không vui/ Không xòe lúa không tốt/ Không xòe cây ngô nghẹn bắp/ Không xòe trai gái không thành đôi”.
Lễ hội bốn mùa bà con mội lứa tuổi tung còn, đánh yến, tó má lẹ, cùng với đồng bào Mông, Dao đẩy gậy, đánh quay,… nhưng cuối cùng vẫn nổi trống xòe. Các cụ cao niên ở Thanh Lương, Hạnh Sơn, Phúc Sơn, Thanh Lương, Phù Nham, Liên Sơn, bản Tủ, An Lương .... đều kể rằng Tết xưa trai làng, gái bản, có cả các anh chị, ông bà xòe thâu đêm không biết mỏi. Có điều gì da diết, đắm say của những điệu xòe đến thế, chỉ khi nào chúng ta đến Mường Lò, cùng nắm tay nhau xòe hoa, bạn sẽ cảm nhận được những giá trị của xòe mà ngôn ngữ thường bất lực.
Xòe Thái gắn bó mật thiết với cuộc sống của đồng bào bao đời nay, trọn một vòng đời mỗi người. Bên cạnh xòe trong lễ nghi tín ngưỡng uy nghi, dẫn truyền với quả nhạc xòe dứt khoát, giữ nhịp cho thầy cúng, thì xòe trong cưới hỏi, mừng nhà mới, đón khách đến thăm nhà, lễ hội xuống đồng, lễ hội cầu mưa, cúng bản, cúng mường rộn rã tưng bừng như suối reo, chim hót.
Điệu xòe có tự bao giờ? Tại sao cả bốn mường Tây Bắc, ai ai cũng nghĩ đến vòng xòe và đống lửa trung tâm mỗi lần gặp nhau. Tôi chắc chắn rằng nó là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào. Nó là nhu cầu bày tỏ tình thương yêu giữa người với người để làm nên giá trị của nhân văn, của đoàn kết cùng chống lại thú dữ từ thủa hồng hoang.

Xòe Thái gắn bó mật thiết với cuộc sống của đồng bào bao đời nay, trọn một vòng đời mỗi người. Ảnh: Tuấn Ninh
Sợi dây kết nối cộng đồng
Nhà thơ, nhạc sĩ Vương Khon, người con của đất trời Mường Thanh đã từng viết: “Điệu xòe, điệu xòe có tự bao giờ/ Mà vẫn mê say như thuở nào/ Điệu xòe, điệu xòe nhớ thuở ban đầu/ Chân đi nhịp nhàng mà sao bối rối/ Tay trong tay đêm nay/ Chân bước đi rộn ràng/ Em bâng khuâng trong điệu xòe/ Để lại hơi ấm bàn tay…”
Không ai đi qua các hội xòe mà không dừng chân, kể cả là các dân tộc anh em khác. Đó là điều tự nhiên ở vùng Tây Bắc, Mường Lò. Trống xòe, khèn bè nổi lên, tiéng gõ đuống, đập mạy rộn rã, tất cả các dân tộc anh em có mặt nơi lễ hội đều cùng nắm tay nhau xòe theo nhịp trống.
Chỉ cần nắm tay nhau thôi là biết xòe. Nhà thơ Ngọc Bái đã từng xòe với bản và có những câu thơ hồn hậu mà dí dỏm: “Đêm xuống ngà ngà như rượu rót/ Ngà ngà làng bản nhịp xòe dâng/ Tôi không biết múa nhưng tôi đã/ Bước theo nhịp lượn bước lâng lâng/ Trời đất sinh em, em xinh thế/ Trời đất sinh tôi để tôi nhìn/ Thiên nhiên phóng khoáng, em hồn hậu/ Tôi khách đường xa những giữ gìn/ Đêm thế là đêm đầy cổ tích/ Sóng sánh em tôi chỉ mỉm cười/ Ừ cứ xòe đi cho thỏa thích/ Không thế rượu gì cũng mất vui”.
Xòe Thái có tính liên kết cộng đồng cao, dù là xòe cổ hay xòe tân tiến. Xòe trở thành sợi dây kết nối cộng đồng, là cơ sở để sáng tạo và làm giàu thêm những giá trị văn hóa mới. Những năm gần đây, kinh tế du lịch phát triển, vùng Văn Chấn - Nghĩa Lộ (Lào Cai) đã liên kết thành chuỗi các sản phẩm du lịch phong phú và đa dạng.
Ngày một nhiều hơn du khách biết đến Mường Lò. Với khẩu hang, cốm Tú Lệ, hoa chuối, phặm phăm, măng chua, cơm ngũ sắc, nhộng ong, dế mèn, các loại rau quả và hoa bốn mùa cùng với xòe Thái bên bập bùng lửa đỏ, trong cái se lạnh của giao mùa.
Đến Mường Lò - Nghĩa Lộ, nhiều người không dễ quên khi về xuôi. Từ vòng xòe cộng đồng hồi sinh những năm 1995 khi mới thành lập lại thị xã Nghĩa Lộ chỉ có khoảng 600 người, theo thời gian vòng xòe lớn dần đến 5000 người và hơn thế. Bởi người Mường Lò đâu chỉ xòe hoa trong lễ hội, mà trong những cuộc vui cả bản cả mường cả núi rừng cùng xòe hoa thì những vòng xòe bất tận không thể gọi thành con số. vòng xòe, hàng ngàn người những năm gần đây cho thấy sức sống mãnh liệt của xòe Thái mạnh mẽ biết nhường nào.
“Inh lả ơi! Sao noọng ơi!”
Xa Nghĩa Lộ nhiều năm rồi, nhưng trong tôi lúc nào cũng da diết nhớ về Mường Lò, Nghĩa Lộ với dìu dặt những câu khắp “Inh lả ơi! Sao noọng ơi!”
Câu hát “Anh có về Nghĩa Lộ với em không” giờ là của người Nghĩa Lộ, Mường Lò, Yên Bía, Lào Cai. Vào Nghĩa Lộ với em để kết nối những vòng xòe bất tận, thêm yêu Tổ quốc mình từ mỗi điệu xòe hoa; để khi xa không lạc đường về bản nhỏ; để yêu Tổ quốc mình từ muôn điệu xòe hoa. Với các biểu đạt văn hóa mang tính cộng đồng cao, xòe Thái là niềm tự hào của dân tộc ta, là di sản của người Thái ở Tây Bắc. Nghệ thuật xòe Thái tượng trưng cho cái đẹp, chứa đựng các giá trị nghệ thuật vũ đạo, âm nhạc, ca hát, trang phục, ẩm thực và ứng xử văn hóa của cộng đồng người Thái.
UNESCO từng nhận xét: “Điệu xòe là chiếc vòng kết nối con người với con người, thời với thời, hồn với hồn; để mỗi bước chân nhún nhảy, mỗi bàn tay nắm chặt không chỉ là tiếng cười, mà là lời khắc ghi: chúng ta ở đây - chúng ta cùng nhau giữ lấy những giá trị sống”, khi vinh danh di sản này, đó không phải chỉ là một điệu múa, mà là “một biểu tượng của sự gắn kết cộng đồng, của bản sắc và của niềm tin vào tương lai”.
