Niềm tin được xây dựng từ năng lực thực thi
Có những lúc niềm tin được bồi đắp từ những điều rất cụ thể: Một thủ tục được giải quyết đúng hẹn, một kiến nghị được trả lời thỏa đáng, một dự án hoàn thành đúng tiến độ, một chính sách được thực hiện công bằng. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới và những chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang gợi mở một yêu cầu rất rõ: Sức thuyết phục của công tác tư tưởng không chỉ nằm ở lời nói đúng, mà còn ở năng lực biến chủ trương đúng thành kết quả mà nhân dân có thể nhìn thấy, cảm nhận và thụ hưởng.
Niềm tin không thể đứng ngoài thực tiễn
Trong đời sống xã hội, niềm tin là một giá trị đặc biệt. Nó không thể được tạo ra bằng mệnh lệnh, càng không thể bền vững chỉ nhờ sự lặp lại của thông điệp. Niềm tin hình thành qua trải nghiệm: Cách một người dân được đối xử khi đến cơ quan công quyền, việc một chính sách có thực sự làm cuộc sống tốt hơn, khả năng hệ thống lắng nghe khi có điều chưa đúng và sửa chữa khi thực tiễn đòi hỏi.
Chính vì vậy, tôi cho rằng một trong những điểm mới có ý nghĩa sâu sắc của Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22-8-2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới là đặt công tác tư tưởng vào toàn bộ chu trình lãnh đạo và quản trị. Nghị quyết xác định công tác tư tưởng phải “đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin”. Cách tiếp cận ấy đã vượt ra khỏi quan niệm coi tuyên truyền là khâu truyền đạt cuối cùng sau khi chính sách đã được quyết định. Công tác tư tưởng trở thành một phần của quá trình hình thành đồng thuận, tổ chức thực hiện, kiểm chứng tác động và điều chỉnh từ thực tiễn.

Ảnh minh họa: TTXVN
Ngày 1-10-2026, tại cuộc làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan liên quan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh một thông điệp rất đáng suy nghĩ: Niềm tin của nhân dân phải được xây dựng bằng kết quả thực tiễn. Đó không phải là một khái niệm trừu tượng. Một hồ sơ đúng hẹn, một kiến nghị được trả lời thỏa đáng, một chính sách được thực hiện công bằng đều là những “đơn vị” rất cụ thể của niềm tin. Và ngược lại, một quy định bất hợp lý được giải thích nhiều lần mà không được sửa, một vấn đề kéo dài qua nhiều cấp mà không có người chịu trách nhiệm đến cùng, có thể làm hao mòn niềm tin nhanh hơn rất nhiều so với khả năng một chiến dịch truyền thông có thể bù đắp.
Thông điệp ấy còn quan trọng ở chỗ xác lập lại trách nhiệm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ cơ quan xây dựng chính sách phải chịu trách nhiệm cả về chất lượng chính sách, tổ chức thực hiện và thông tin, giải thích chính sách; Ban Tuyên giáo thực hiện chức năng tham mưu, định hướng, hướng dẫn, điều phối, kiểm tra, chứ không làm thay trách nhiệm giải trình và sửa sai của cơ quan có thẩm quyền. Theo tôi, đây chính là cách làm cho công tác tư tưởng mạnh hơn, chứ không phải nhẹ đi. Khi trách nhiệm được đặt đúng chỗ, ngành Tuyên giáo có thể tập trung tốt hơn vào chức năng cốt lõi: Nắm bắt thực tiễn, phát hiện sớm vấn đề, bảo đảm “đường đi của sự thật” từ cơ sở tới nơi có quyền quyết định, góp phần để chính sách tốt hơn và đồng thuận xã hội bền vững hơn.
Trong bối cảnh không gian số làm cho thông tin lan truyền nhanh, cảm xúc xã hội biến động mạnh và mỗi người dân đều có khả năng trở thành một chủ thể truyền thông, niềm tin càng không thể được xây dựng bằng cách né tránh câu hỏi khó. Chính sự thật, minh bạch, trách nhiệm và khả năng sửa sai mới tạo ra sức thuyết phục lâu dài. Nghị quyết 25 với phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả” vì thế không chỉ đòi hỏi chúng ta nói nhanh hơn hay phản bác mạnh hơn; quan trọng hơn là phải phát hiện đúng hơn, giải thích rõ hơn, thúc đẩy xử lý sớm hơn và để kết quả thực tế trở thành bằng chứng có sức thuyết phục nhất.
Từ truyền thông chính sách đến quản trị niềm tin
Một chính sách chỉ thực sự hoàn chỉnh khi nó được hiểu, được thực hiện và được kiểm chứng bằng đời sống. Bởi vậy, đổi mới công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay cần gắn rất chặt với đổi mới truyền thông chính sách và, rộng hơn, với năng lực quản trị niềm tin xã hội.
Trước đây, ở không ít nơi, truyền thông thường bắt đầu khi văn bản đã được ký. Cách làm ấy vẫn cần, nhưng không còn đủ. Một chính sách tác động lớn đến đất đai, giáo dục, y tế, nhà ở, môi trường hay sinh kế phải chuẩn bị phương án thông tin và tiếp nhận phản hồi ngay từ khâu thiết kế: Nhóm nào được hưởng lợi, nhóm nào có thể chịu thêm chi phí, dữ liệu nào cần công khai và vấn đề nào phải xử lý trước khi triển khai rộng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu rất rõ: Khi chính sách phát sinh bất cập, việc cần làm trước hết là nghiên cứu sửa bất cập, không phải tìm cách giải thích để bảo vệ bằng được một quyết định chưa phù hợp với thực tế. Tôi cho rằng đây là một yêu cầu có ý nghĩa rất sâu đối với công tác tư tưởng. Sức mạnh của hệ thống không nằm ở chỗ không bao giờ có sai sót, mà ở năng lực phát hiện sớm, sửa đúng, sửa nhanh và công khai trách nhiệm. Một bộ máy biết tự sửa sai chính là một bộ máy có bản lĩnh; một nền truyền thông biết nói đúng cả thuận lợi lẫn khó khăn chính là nền truyền thông tạo được lòng tin.
Vì vậy, quản trị niềm tin cần được tổ chức như một chu trình hai chiều. Một chiều là đưa chủ trương, chính sách đến với nhân dân bằng thông tin chính xác, dễ hiểu, kịp thời. Chiều còn lại là đưa tâm tư, phản ánh, tín hiệu bất thường và phê bình có căn cứ trở lại quá trình ra quyết định. Phản hồi không nên dừng ở báo cáo dư luận, mà phải chuyển thành câu hỏi quản trị: Trách nhiệm thuộc về ai, cần sửa cách làm hay sửa quy định, bao giờ xử lý xong và kết quả được kiểm chứng thế nào.
Đó cũng là lý do công tác tư tưởng phải ngày càng dựa trên dữ liệu và khả năng đo lường. Không thể chỉ đánh giá một chiến dịch truyền thông bằng số lượng tin, bài, lượt tiếp cận hay hội nghị được tổ chức. Cần biết người dân hiểu chính sách hơn ở điểm nào, tỷ lệ kiến nghị được trả lời thực chất ra sao, thời gian phản hồi có rút ngắn không, vấn đề chính đáng có được giải quyết không, mức độ đồng thuận có thay đổi không. Kế hoạch số 08-KH/TW của Ban Bí thư triển khai Nghị quyết 25 đã nhấn mạnh yêu cầu cụ thể hóa thành nhiệm vụ có lộ trình, sản phẩm, nguồn lực và đầu mối chịu trách nhiệm rõ ràng. Đây chính là tinh thần phải được đưa sâu xuống từng cơ quan, địa phương, từng chiến dịch thông tin và từng vấn đề xã hội cụ thể.
Trong không gian số, yêu cầu này càng cấp thiết. Thuật toán có thể làm tin sai lan rất nhanh, nhưng công nghệ cũng giúp nhận diện sớm vấn đề, phân tích xu hướng và phản hồi kịp thời hơn. Dù vậy, không công nghệ nào thay thế được sự tôn trọng nhân dân. Muốn nói có sức thuyết phục phải biết lắng nghe; muốn dẫn dắt nhận thức phải có năng lực giải quyết điều người dân đang băn khoăn. Công tác tư tưởng vì thế không chỉ là truyền đi thông điệp, mà là tổ chức một quá trình tương tác có trách nhiệm giữa Đảng, Nhà nước và xã hội.
Năng lực thực thi - sức mạnh thuyết phục lớn nhất
Những ngày đầu tháng 10-2026, thông điệp về thực thi tiếp tục được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV. Khi đánh giá kết quả phát triển, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ: “Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển là thước đo quan trọng về hiệu quả quyết sách, chất lượng công tác cán bộ và năng lực tổ chức thực hiện”. Đồng thời, mỗi quyết sách phải có cách kiểm chứng kết quả và điều chỉnh từ thực tiễn. Theo tôi, đây là một nguyên tắc không chỉ dành cho quản lý kinh tế hay tổ chức bộ máy; nó cũng là một nguyên tắc của công tác tư tưởng.
Suy cho cùng, sức thuyết phục cao nhất của một chủ trương không nằm ở việc chúng ta nói về nó hay đến đâu, mà ở việc nó có giải quyết được vấn đề hay không. Chính sách hỗ trợ người yếu thế thuyết phục khi người cần hỗ trợ nhận được trợ giúp thuận lợi; chương trình phát triển văn hóa tạo đồng thuận khi người dân có thêm cơ hội thụ hưởng và nghệ sĩ có thêm không gian sáng tạo; chuyển đổi số có ý nghĩa khi người dân bớt đi lại, bớt khai lại thông tin và nhận dịch vụ nhanh hơn. Kết quả thực tế chính là ngôn ngữ có sức lan tỏa mạnh nhất.
Từ góc độ công tác tư tưởng, điều đó đặt ra ít nhất ba yêu cầu. Thứ nhất, phải gắn chặt công tác tư tưởng với năng lực tổ chức thực hiện của từng cấp, từng ngành. Không thể để ngành Tuyên giáo đứng ở phía cuối, giải thích cho những điểm nghẽn mà cơ quan thực thi có trách nhiệm phải tháo gỡ. Thứ hai, phải tạo cơ chế để phản ánh trung thực được bảo vệ và sử dụng như một nguồn dữ liệu lãnh đạo. Một cán bộ báo cáo đúng khó khăn phải được ghi nhận; một nhà báo, chuyên gia hay người dân nêu vấn đề có căn cứ phải nhận được câu trả lời bằng dữ kiện và kết quả xử lý. Thứ ba, phải xây dựng văn hóa trách nhiệm: Mỗi nhiệm vụ rõ người chủ trì, rõ sản phẩm, rõ thời hạn, rõ cơ chế phối hợp, rõ tiêu chí đánh giá; tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng cuối cùng không ai chịu trách nhiệm đến cùng.
Với hệ thống tuyên giáo, tôi cho rằng đây cũng là cơ hội để đổi mới mạnh mẽ phương thức công tác theo đúng tinh thần Nghị quyết 25: Từ theo dõi thông tin sang phát hiện vấn đề; từ phản ứng khi dư luận đã nóng sang dự báo và cảnh báo sớm; từ truyền đạt một chiều sang đối thoại; từ đo số lượng hoạt động sang đo chuyển biến trong nhận thức, đồng thuận và kết quả xử lý; từ “bảo vệ” một cách máy móc sang bảo vệ cái đúng, đồng thời góp phần sửa những điều chưa đúng. Khi làm được như vậy, công tác tư tưởng sẽ thực sự “đi trước mở đường”, “đi cùng” trong tổ chức thực hiện và “đi sau” để tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin như Nghị quyết 25 yêu cầu.
Đất nước đang đứng trước những mục tiêu phát triển rất cao. Càng cần tăng tốc, niềm tin càng là nguồn lực quý giá: Giúp xã hội đồng thuận với quyết sách khó, cán bộ dám làm, doanh nghiệp dám đầu tư và người dân chung sức cho mục tiêu lớn. Nhưng nguồn lực ấy chỉ bền vững khi được nuôi dưỡng hằng ngày bằng hiệu quả công việc, sự công bằng của chính sách, tinh thần trách nhiệm và năng lực tự sửa sai của bộ máy.
Tôi vẫn nghĩ, công tác tư tưởng sâu xa nhất là công tác với con người. Muốn người dân tin, trước hết phải tôn trọng người dân; muốn tạo đồng thuận, phải để người dân thấy tiếng nói của mình được lắng nghe; muốn một chủ trương có sức lan tỏa, phải làm cho giá trị của chủ trương ấy hiện diện trong đời sống. Khi chính sách đúng đi cùng thực thi tốt, khi lời nói đi cùng hành động, khi phản ánh của thực tiễn đi được tới nơi có quyền quyết định và được giải quyết đến cùng, niềm tin sẽ không cần những lời khẳng định quá lớn. Nó được hình thành một cách tự nhiên, từ những thay đổi cụ thể mà mỗi người dân có thể cảm nhận trong cuộc sống của mình. Và đó chính là nền tảng bền vững nhất để công tác tư tưởng thực sự trở thành sức mạnh tinh thần, sức mạnh chính trị và nguồn lực nội sinh của đất nước trong kỷ nguyên mới.
