Ninh Bình: Canh tác lúa tiết kiệm 9,3 triệu đồng/ha, bài toán nhân rộng đặt lên vai HTX
Mô hình canh tác lúa giảm phát thải bước đầu cho thấy tiềm năng tiết kiệm chi phí, giảm vật tư đầu vào. Để nhân rộng, Ninh Bình cần tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, phát huy vai trò của HTX trong thống nhất quy trình canh tác và kết nối doanh nghiệp tiêu thụ.
Sau hơn ba tháng triển khai kể từ ngày 8/7/2026, mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững tại Ninh Bình bước đầu ghi nhận những kết quả tích cực về tiết giảm chi phí đầu vào và ứng dụng cơ giới hóa.
Mô hình do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình và Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp Xanh Việt Nam (VAG Group) triển khai, sử dụng giống lúa LP5 kết hợp công nghệ cơ giới hóa sạ hàng, vùi phân.
Tại hội nghị tổng kết tổ chức ngày 16/10 ở xã Nghĩa Sơn, tỉnh Ninh Bình, các đơn vị triển khai cho biết phương thức canh tác mới không chỉ hướng đến giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần sử dụng hiệu quả vật tư nông nghiệp, tạo tiền đề phát triển vùng lúa hàng hóa theo hướng giảm phát thải.

Các chuyên gia chia sẻ tại Hội nghị tổng kết mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững ngày 16/10 tại xã Nghĩa Sơn, tỉnh Ninh Bình.
Phương thức mới, giúp tiết kiệm 9,3 triệu đồng/ha
Theo kết quả đánh giá tại địa phương, phương pháp sạ hàng kết hợp vùi phân giúp giảm chi phí sản xuất từ 8,6% đến 45,7% khi so sánh với các tập quán canh tác như sạ lan, cấy máy hoặc cấy tay. Mức tiết kiệm được báo cáo khoảng 9,3 triệu đồng/ha.
Đây là khoản chi phí đáng kể đối với người trồng lúa, nhất là trong bối cảnh giá vật tư đầu vào và chi phí nhân công tiếp tục ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất.
Ông Nguyễn Ngọc An, đại diện Chi nhánh giống cây trồng xã Nghĩa Sơn, cho biết qua quá trình trực tiếp cung cấp giống, theo dõi và đồng hành cùng nông dân trong vụ mùa năm 2026, mong muốn lớn nhất của người sản xuất vẫn là giảm chi phí đầu vào và có thị trường tiêu thụ ổn định.
Theo ông An, việc áp dụng quy trình kỹ thuật mới bước đầu cho thấy những chuyển biến tích cực trên đồng ruộng. Với nông dân, ngay cả khoản tiết kiệm vài chục nghìn đồng trên mỗi sào cũng có ý nghĩa đối với thu nhập. Khi áp dụng trên diện tích lớn, hiệu quả tích lũy có thể tạo thêm động lực duy trì sản xuất.
Đánh giá kết quả mô hình, ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, cho biết số liệu do VAG Group và IRRI báo cáo cho thấy tiềm năng tiết kiệm khoảng 20–30% chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời góp phần giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí mê-tan trong canh tác lúa.
Theo TS. Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học cao cấp của IRRI, điểm đáng chú ý của mô hình là sự kết hợp đồng bộ giữa cơ giới hóa gieo sạ, vùi phân, quản lý dinh dưỡng chính xác và tuần hoàn rơm rạ.
Cách tiếp cận này hướng đến tăng lượng hữu cơ trong đất, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất.
Việc theo dõi trực tiếp trên đồng ruộng và thu thập dữ liệu giúp các chuyên gia đánh giá hiệu quả sử dụng vật tư, quá trình sinh trưởng của cây lúa và khả năng vận hành công nghệ trong điều kiện thực tế. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quy trình trước khi mở rộng diện tích áp dụng.
Tuy nhiên, hiệu quả kỹ thuật mới là một phần của bài toán. Để phương thức canh tác này được nông dân duy trì lâu dài, chi phí triển khai, khả năng tổ chức đồng ruộng và đầu ra sản phẩm cũng cần được tính toán đồng bộ.

Phương pháp sạ hàng kết hợp vùi phân giúp giảm chi phí sản xuất 9,3 triệu đồng/ha.
Dù kết quả bước đầu khả quan, việc mở rộng mô hình tại Ninh Bình đang gặp trở ngại từ phương thức tổ chức sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu thống nhất về giống và lịch thời vụ.
Tại xã Hồng Phong, một trong những địa phương có diện tích trồng lúa lớn của tỉnh với khoảng 1.519 ha, tình trạng này thể hiện khá rõ.
Trao đổi với VnBusiness, ông Hoàng Quang Tuyến, Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Phong, cho biết địa phương có truyền thống sản xuất lúa lâu đời, với ba HTX nông nghiệp đang hoạt động cùng hệ thống tổ khuyến nông cộng đồng. Đây là những lực lượng có thể tham gia đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Tuy nhiên, nguồn lao động trực tiếp làm nông nghiệp ngày càng giảm, trong khi sản xuất nhỏ lẻ, tự phát và tình trạng bỏ hoang ruộng đất theo từng vụ có xu hướng gia tăng.
Đáng chú ý, ngay trên cùng một cánh đồng, các hộ có thể gieo trồng nhiều giống lúa khác nhau, không thống nhất thời điểm xuống giống và thu hoạch. Sự thiếu đồng bộ này gây khó khăn cho việc đưa máy móc vào sản xuất, tổ chức thu hoạch tập trung và kiểm soát chất lượng sản phẩm.
“Sự thiếu đồng bộ này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả sản xuất mà còn làm giảm sức hút đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và các HTX có nhu cầu tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ”, ông Tuyến nhận định.
Thực tế trên cho thấy, dù một công nghệ có khả năng tiết giảm chi phí, việc áp dụng trên diện rộng vẫn khó đạt hiệu quả nếu mỗi hộ sản xuất theo một quy trình riêng.
Chẳng hạn, cơ giới hóa gieo sạ sẽ thuận lợi hơn khi các thửa ruộng được tổ chức thành vùng sản xuất tương đối tập trung, có sự thống nhất về giống, thời vụ và quy trình chăm sóc. Ngược lại, sản xuất phân tán khiến việc bố trí máy móc, nhân công và tổ chức thu hoạch gặp nhiều trở ngại.
Theo định hướng của xã Hồng Phong, địa phương sẽ tập trung khắc phục tình trạng manh mún, xây dựng các vùng sản xuất lúa hàng hóa với quy trình kỹ thuật thống nhất, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp.
HTX giữ vai trò liên kết nông hộ, hình thành vùng lúa hàng hóa
Từ thực tế tại Hồng Phong, vai trò của HTX không chỉ nằm ở việc cung ứng dịch vụ nông nghiệp mà còn ở khả năng tập hợp các hộ sản xuất, phối hợp lịch thời vụ và tổ chức áp dụng quy trình kỹ thuật chung.
Đây là điều kiện quan trọng để các mô hình cơ giới hóa, sử dụng vật tư hợp lý và canh tác giảm phát thải có thể triển khai trên diện tích lớn hơn.
Đối với vùng sản xuất có nhiều hộ nhỏ lẻ, HTX có thể đóng vai trò đầu mối phối hợp giữa nông dân, đơn vị cung ứng giống, dịch vụ cơ giới hóa và doanh nghiệp thu mua. Khi các hộ cùng thực hiện một quy trình, việc kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất hàng hóa cũng thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, để đảm nhận vai trò này, HTX cần có năng lực điều hành sản xuất, tổ chức dịch vụ và xây dựng liên kết với doanh nghiệp. Việc mở rộng vùng lúa hàng hóa vì vậy không thể chỉ dựa vào chuyển giao kỹ thuật mà còn đòi hỏi nâng cao năng lực tổ chức của kinh tế tập thể.

Ông Hoàng quang Tuyến Phó Chủ tịch xã Hồng Phong.
Từ kết quả mô hình, ông Nguyễn Sinh Tiến đề nghị các cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường, chính quyền địa phương và HTX phối hợp xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thúc đẩy dồn điền đổi thửa và tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa đồng bộ.
Cùng với đó, ngành nông nghiệp địa phương định hướng tăng cường hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón hợp lý, cân đối nguồn hữu cơ và hạn chế tình trạng đốt rơm rạ tùy tiện sau thu hoạch.
Những giải pháp này không chỉ nhằm giảm chi phí sản xuất mà còn hướng đến thay đổi phương thức canh tác, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hạn chế tác động đến môi trường.
Theo định hướng của ngành nông nghiệp tỉnh, mô hình tại Nghĩa Sơn sẽ là cơ sở để nghiên cứu mở rộng diện tích canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm với các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng.
Dù vậy, mở rộng diện tích không đơn thuần là tăng số hecta áp dụng công nghệ. Vấn đề quan trọng hơn là hình thành được phương thức tổ chức sản xuất phù hợp để nông dân, HTX và doanh nghiệp cùng tham gia, chia sẻ trách nhiệm và lợi ích.
Một vấn đề khác đặt ra là khả năng duy trì mô hình sau giai đoạn triển khai ban đầu.
Với nông dân, lợi ích từ tiết kiệm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhân công chỉ thực sự bền vững khi năng suất được bảo đảm và sản phẩm có đầu ra ổn định.
Đối với HTX, việc vận động thành viên thay đổi tập quán canh tác cũng sẽ thuận lợi hơn nếu có phương án tiêu thụ rõ ràng, giúp người sản xuất nhìn thấy lợi ích kinh tế từ việc tuân thủ quy trình chung.
Trong khi đó, doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thông qua cung ứng vật tư, hỗ trợ kỹ thuật và liên kết thu mua. Sự phối hợp này là yếu tố cần thiết để chuyển một mô hình trình diễn thành phương thức sản xuất hàng hóa có khả năng duy trì lâu dài.
Đặc biệt, khi sản xuất lúa đang được định hướng theo hướng xanh và giảm phát thải, việc tổ chức vùng nguyên liệu đồng bộ còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho theo dõi quy trình canh tác, quản lý chất lượng và thu thập dữ liệu phục vụ đánh giá hiệu quả môi trường.
Từ kết quả bước đầu tại Nghĩa Sơn, bài toán đặt ra với Ninh Bình không chỉ là nhân rộng công nghệ sạ hàng kết hợp vùi phân, mà còn là tổ chức lại sản xuất để công nghệ phát huy hiệu quả trên diện rộng.
Trong quá trình đó, HTX có thể trở thành mắt xích kết nối nông hộ với tiến bộ kỹ thuật và thị trường. Nếu thiếu liên kết sản xuất, tiêu thụ, những khoản tiết kiệm được ghi nhận từ mô hình sẽ khó chuyển thành lợi ích kinh tế ổn định cho người trồng lúa.

