Nón ngựa Phú Gia - Kiệt tác đội đầu của miền đất võ
Ở Việt Nam có nhiều làng nón nổi danh như nón Phú Cam (Huế), nón quai thao (Bắc Ninh)… Những chiếc nón cổ truyền của dân tộc ngày càng khẳng định sự độc đáo của nghề làm nón cổ truyền của người Việt.
Tại “xứ Nẫu”, có chiếc nón Gò Găng cũng rất nổi tiếng; lại có một chiếc nón khác rất độc đáo, một sản phẩm chỉ dành cho giới quý tộc, quan binh của triều đình, đó là chiếc nón ngựa...
Sở dĩ gọi là nón ngựa là vì nón có được sự dẻo dai, bền bỉ, thích hợp cho người đội khi cưỡi ngựa. Ngày xưa, những nghệ nhân ở đây làm ra chiếc nón này chủ yếu để phục vụ cho vua, quân đội khi ngồi trên lưng ngựa. Đặc biệt, vào thời vua Quang Trung, nón ngựa Phú Gia đã gắn liền với đội quân thần tốc Tây Sơn.

Mặt trong nón ngựa Phú Gia (Cát Tường, Phù Cát) với hoa văn thêu ngũ sắc tinh xảo.
Ngày trước, khi các thầy Chánh, cụ Lý cưỡi ngựa, đội nón ngựa có chụp bạc trông rất oai phong lẫm liệt. Có lẽ dân ngại cái uy của các quan thầy đội nón ngựa nên đã có bài đồng dao như sau: “Thầy Chánh, nón chụp bạc, áo tam giang/ Cưỡi ngựa qua làng, con gái chạy re...”
Cùng là họ hàng với nhau nên nón ngựa cũng gần giống về hình thức với các loại nón khác. Nếu chiếc nón bài thơ của xứ Huế mộng mơ, hoặc chiếc nón Gò Găng xinh đẹp như cô gái dáng hình mảnh mai, yểu điệu, thì nón ngựa lại như một trang hán tử đầu đội trời, chân đạp đất, xông pha trước hòn tên mũi đạn. Nón ngựa trông có vẻ rất cứng cáp và bề thế hơn rất nhiều.
Làng nón ngựa Phú Gia (ở Phú Gia, Cát Tường, Phù Cát) có tuổi đời khoảng 400 năm, như một nốt nhạc yên bình lưu giữ những vẻ đẹp truyền thống của người dân đất võ. Nằm cách Quy Nhơn khoảng 40 km về hướng Nam – Bắc, với hơn 400 hộ làm nghề, nón ngựa Phú Gia được xem là “kiệt tác” của chiếc nón lá Việt Nam, biểu tượng cho sự mạnh mẽ, uy nghiêm của con nhà võ, gắn với những đội quân Tây Sơn thần tốc xưa. Chính những nghệ nhân làm nên nón ngựa Phú Gia cũng thấy hứng khởi trước vẻ đẹp của chiếc nón do mình làm ra.
Muốn làm nón ngựa, người thợ thủ công phải có nhiều kinh nghiệm trong nghề chằm nón, vì nón ngựa mang rất nhiều nét mỹ thuật, công phu hơn các loại nón cổ truyền khác. Nón ngựa thường lớn hơn chiếc nón thường, đường kính khoảng 50 phân, độ nghiêng góc nón ước chừng 120 độ. Lá nón ngựa được ép và ủi thật phẳng; người ta kéo căng sợi lá trên một con lăn bằng đồng hay bằng sắt bóng loáng đã được nung nóng. Lá nón rộng khoảng một phân, xếp đều theo chiều dọc, lá này cách lá kia khoảng 2 ly, hẹp dần về phía đỉnh nón. Trước khi lợp lá, thợ chằm nón phải tết một lớp lưới sườn toàn bằng cước thơm bên Tàu.
Chỉ riêng việc làm nan chiếc nón ngựa cũng đã rất công phu. Nan vành to bằng mút đầu đũa, đánh vòng và kết lại sao cho không thấy mối. Các vành phụ của nón nhỏ dần như sợi chỉ thì tới đỉnh nón, gần sáu trăm dải lá xếp dày. Mối chỉ ở lá đầu được lá thứ hai che, và cứ thế cho đến dải lá cuối cùng. Cầm chiếc nón nhìn kỹ, ta vẫn không thể tìm ra mối chỉ nằm ở đâu.
Phần quan trọng nhất của công đoạn làm nón ngựa là phần trang trí. Phía bên trong chiếc nón ngựa được các nghệ nhân trang trí hoa văn bằng sợi chỉ thêu, thêu thành nét chữ hoặc hoa lá. Thân nón là các họa tiết, thông thường là sách bút, đôi khi là hình chim trĩ, chim công… Họa tiết thay đổi theo phẩm hàm, chức vụ quan lại triều đình của người đội nón. Chóp nón ngựa thường để trần; trên đỉnh có một chùm chỉ ngũ sắc phất phơ như bông hoa để cho các bậc quan quyền hoặc người giàu có sử dụng.
Theo các nghệ nhân lớn tuổi kể lại, trước đây khi đội nón ngựa thường phải tuân thủ các quy ước riêng theo cấp hàm. Nếu người đội nón là cấp bậc từ xã trưởng trở lên thì chiếc nón ngựa có chụp bằng đồng hay bạc. Chụp được chạm trổ theo phẩm trật triều đình. Trên đỉnh là núm hình quả trám nhọn hoắt.
Quai nón thường to và dày; chất liệu là vải lụa hoặc gấm. Cách buộc quai nón ngựa cũng khác với nón thường. Dải nón dài độ 1,2 m, quàng qua hai quai và thắt một lần ở dưới cằm, phần thừa như người đeo cà vạt. Vì thế quai nón rất dễ điều chỉnh, nhất là khi đi ngựa.
Nón ngựa không thấy bán ở ngoài chợ. Ngày nay, người có nhu cầu nón ngựa phải đến đặt hàng tại các làng nghề ở An Nhơn, Phù Cát hoặc xã Tây Sơn. Nón ngựa rất chắc chắn, công phu và mang tính mỹ thuật cao. Chiếc nón ngựa từng vang bóng một thời trên quê hương đất võ. Nón ngựa chính là một sản phẩm mỹ thuật xưa. Hiện nay, ở Bình Định rất ít người có nhu cầu đội nón ngựa trong sinh hoạt hằng ngày; hầu hết chỉ sử dụng nón ngựa vào các mục đích lễ hội, biểu diễn nghệ thuật sân khấu tuồng, hoặc bán cho du khách như một món hàng lưu niệm độc đáo của miền đất võ...
Hiện nay, nghề làm “nón ngựa” đang tồn tại ở một ngôi làng nông nghiệp tại thôn Xuân Quang và hai thôn khác ở Phù Cát. Dù nón ngựa không phổ biến, nhưng một số hộ gia đình ở đây vẫn duy trì và phát triển để chờ thời cơ... Làng nghề nón ngựa thôn Xuân Quang có truyền thống đã hơn một trăm năm nay, trải qua biết bao thăng trầm nhưng nghề làm nón ngựa vẫn tồn tại.
Đến xem tận mắt nghề làm nón ngựa ở đây mới có thể hiểu được phần nào giá trị của một chiếc nón ngựa thành phẩm. Không giống các loại nón khác, chiếc nón ngựa được làm ra qua nhiều công đoạn, nhiều người cùng tham gia, đồng thời phải trải qua nhiều thao tác tỉ mỉ như làm khung nón, rọc lá, chằm nón...
Thường thì những người hoàn thành khâu cuối của chiếc nón ngựa phải mua “chằm” đã gia công sẵn, bởi đây là công đoạn khó làm nhất. Mỗi ngày, một nhà làm được khoảng vài chục chiếc nón ngựa. Mỗi năm, mỗi hộ làng nghề cho ra đời khoảng 7.000 – 8.000 chiếc nón ngựa. Nghề làm nón ngựa tuy chưa phổ biến nhưng cũng đã giúp nhiều gia đình nghèo ở xã Cát Tường cải thiện cuộc sống khó khăn và góp phần xóa đói giảm nghèo.
Nguyên vật liệu để làm nón ngựa hiện nay ngày càng khó kiếm; người dân phải lên tận các vùng miền núi của tỉnh như Vân Canh, Vĩnh Thạnh hoặc An Lão (Bình Định cũ) để mua lá nón theo từng phiên chợ. Chất liệu làm nón ngựa là một loại lá rừng; vành nón được làm bằng “cây dứa rừng”. Tuyệt đối không được làm bằng lá cọ và tre nứa như nhiều loại nón lá thông thường khác.
Quan sát thật kỹ chiếc nón ngựa mới hiểu được công phu của người chằm nón ngựa ở Cát Tường (Phù Cát) không kém gì các làng nón nổi tiếng khác như nón lá Gò Găng (Tuy Phước, Bình Định cũ) hay chiếc nón bài thơ xứ Huế. Bên trong mặt nón ngựa cũng thêu những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ mang phong cách đặc trưng của quê hương “xứ Nẫu”, hoặc những câu nói hay, phổ biến về đất nước, con người và phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam như ca ngợi mẹ hiền, dâu thảo, hình ảnh con Rồng cháu Tiên. Chiếc nón ngựa khi hoàn thành được trang trí bằng chỉ thêu ngũ sắc rất tinh xảo; trên chóp nón có gắn tua hoặc bọc bằng kim loại mạ đồng.
Do những giá trị văn hóa đặc sắc nêu trên, nghề chằm nón ngựa Phú Gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 956/QĐ-BVHTTDL ngày 9/4/2024. Với những nét đặc trưng mà các mặt hàng nón cổ truyền khác khó có thể có được, nghề nón ngựa đất võ đã thực sự góp phần làm phong phú thêm loại hình du lịch làng nghề ở xứ Nẫu, giới thiệu đến du khách và bạn bè trên thế giới...














