Nông dân vùng biên với khát vọng làm giàu

Tám xã biên giới của thành phố Đồng Nai gồm: Bù Gia Mập, Đăk Ơ, Hưng Phước, Thiện Hưng, Tân Tiến, Lộc Tấn, Lộc Thạnh và Lộc Thành có tổng diện tích tự nhiên hơn 1.343km², dân số hơn 145.700 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 28%. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp với hơn 60%. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, không ít nông dân đã mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, tìm kiếm hướng sản xuất mới, từng bước nâng cao thu nhập.

Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Cao Tiến Sỹ (bìa trái) thăm, tìm hiểu các sản phẩm của nông dân xã Bù Gia Mập.

Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, Chủ tịch Hội Nông dân thành phố Cao Tiến Sỹ (bìa trái) thăm, tìm hiểu các sản phẩm của nông dân xã Bù Gia Mập.

Tuy nhiên, giá nông sản bấp bênh, đầu ra thiếu ổn định và nỗi lo vật tư nông nghiệp kém chất lượng vẫn là những rào cản cần được tháo gỡ để người dân yên tâm đầu tư, làm giàu.

Những mô hình mở hướng làm giàu

Năm 2014, sau chuyến sang Campuchia tìm hiểu sản xuất nông nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Chi (ở ấp Lộc Thạnh, xã Lộc Thạnh) quyết định đưa giống xoài keo về trồng thử nghiệm. Nhận thấy cây phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai khô cằn, sỏi đá ở vùng biên, bà mở rộng diện tích lên 14ha. “Nếu điều kiện thời tiết thuận lợi, không sâu bệnh, cây xoài keo thường cho năng xuất khoảng 20 tấn/hécta/năm. Với giá bán khoảng 6 ngàn đồng/kg, tương đương 120 triệu đồng/hécta thì giá trị cây xoài keo cao hơn nhiều so với một số cây trồng khác” - bà Chi cho biết.

Nhận thấy nhiều hộ dân trong xã còn chật vật với nguồn thu từ một số cây trồng kém chất lượng, bà Chi đứng ra thành lập Hợp tác xã (HTX) Cây ăn trái Tân Lộc Thạnh với 21 thành viên, tổng diện tích sản xuất 34ha, trong đó xoài chiếm 23ha. HTX có 7 hộ đồng bào dân tộc Xtiêng, Khmer tham gia, mỗi hộ có từ 0,5-1ha. Khi hiệu quả kinh tế từ cây xoài keo được khẳng định, các thành viên HTX mạnh dạn đầu tư chăm sóc. Một số hộ chuyển sang xử lý cho trái vụ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm. Gia đình ông Nguyễn Thái Bình là một trong những hộ đi theo hướng này. Với 1ha xoài keo trái vụ, gần đây gia đình ông thu đạt sản lượng 12 tấn trái thương phẩm, giá bán bình quân 20 ngàn đồng/kg, doanh thu khoảng 240 triệu đồng.

Không dừng lại ở bán trái tươi, HTX còn chế biến xoài sấy dẻo nguyên vị, xoài sấy tẩm muối ướt. Thông qua liên kết với đối tác, sản phẩm được xuất khẩu sang Malaysia, xoài sấy sang Nga và xoài non sang Hàn Quốc.

Tại xã Lộc Tấn, bà Bùi Thị Hường (ở ấp Thạnh Tây) cũng mạnh dạn thay đổi hướng sản xuất sau nhiều lần chuyển đổi mô hình chưa đạt hiệu quả. Cách đây 2 năm, gia đình bà đầu tư nhà màng trồng 2 sào dưa lưới. Theo bà Hường, mỗi vụ có thể thu khoảng 5 tấn/sào; với giá bán 40 ngàn đồng/kg, doanh thu đạt khoảng 200 triệu đồng/sào/vụ. Nếu duy trì 4 vụ mỗi năm, mô hình có tiềm năng mang lại nguồn thu đáng kể, dù hiệu quả thực tế còn phụ thuộc chi phí đầu tư, chăm sóc và thị trường tiêu thụ.

Trong khi đó, tại xã Lộc Thành, ông Nguyễn Viết Dương (ở ấp Tà Tê) lựa chọn gắn bó với cây quýt hồng từ năm 2019. Đây là loại cây đòi hỏi người trồng phải theo sát vườn, thường xuyên thăm vườn và xử lý sâu bệnh. Đến vụ thu hoạch thứ 5, vườn quýt của ông Dương đạt năng suất bình quân khoảng 70 tấn/hécta, giá bán dao động từ 23-25 ngàn đồng/kg. Tuy nhiên, theo ông Dương, việc tiêu thụ vẫn phụ thuộc nhiều vào thương lái và diễn biến thị trường. Đặc biệt, quýt hồng là loại trái cây được lựa chọn để chưng Tết nên hình thức, mẫu mã có ảnh hưởng lớn đến giá bán. Nếu sử dụng phải phân bón giả, thuốc bảo vệ thực vật kém chất lượng thì trái sẽ bị nám vỏ, sâu bệnh tấn công, nhà vườn có thể chịu thiệt hại nặng sau cả quá trình đầu tư.

Gỡ nút thắt từ vật tư đến đầu ra

Những băn khoăn của ông Dương cũng là mối lo chung của nhiều hội viên, nông dân ở các xã biên giới. Tại Diễn đàn Lắng nghe nông dân nói khu vực biên giới năm 2026 do Hội Nông dân thành phố tổ chức, nhiều ý kiến phản ánh tình trạng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng và cây giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ. Tại một số xã như: Thiện Hưng, Hưng Phước, Lộc Tấn diện tích trồng sầu riêng ngày càng tăng nhưng việc tiêu thụ thiếu ổn định. Trong khi đó, nhu cầu về vốn để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư kỹ thuật và mở rộng sản xuất vẫn lớn.

Đối với nhu cầu vốn sản xuất, Hội Nông dân thành phố ưu tiên phân bổ 16 tỷ đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân cho 8 xã biên giới, mỗi xã 2 tỷ đồng để triển khai các phương án sản xuất cho nông dân trong thời gian tới. Hội phối hợp với ngân hàng, tổ chức tín dụng hướng dẫn hội viên tiếp cận các nguồn vốn phù hợp; đồng thời tổng hợp những vướng mắc về hồ sơ, tài sản bảo đảm và thủ tục vay vốn để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ.

Từ thực tế này, nông dân kiến nghị các cấp, ngành cần có giải pháp tháo gỡ. Trao đổi tại diễn đàn, bà Lê Thị Ánh Tuyết, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Thành phố hiện có 2.482 cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật, phân bón và giống cây trồng. Trong năm 2026, sở đã xây dựng kế hoạch kiểm tra điều kiện sản xuất, kinh doanh các mặt hàng này, thực hiện từ tháng 9 đến tháng 12-2026. Sở đề nghị UBND các xã địa bàn biên giới tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh vật tư nông nghiệp, phối hợp với cơ quan chuyên môn và lực lượng quản lý thị trường rà soát các cơ sở kinh doanh trên địa bàn.

Đối với bài toán đầu ra, ngành nông nghiệp xác định tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp là giải pháp quan trọng. Các địa phương cần vận động người dân tham gia tổ hợp tác, HTX, hình thành vùng nguyên liệu tập trung, thống nhất quy trình sản xuất. Sở sẽ phối hợp với các đơn vị chuyên môn hướng dẫn HTX, doanh nghiệp xây dựng dự án, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Việc xây dựng mã số vùng trồng, ứng dụng tem truy xuất nguồn gốc cũng được xác định là những khâu cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp thu mua và thị trường xuất khẩu chính ngạch.

Khát vọng làm giàu của nông dân vùng biên đang được khơi dậy từ những mô hình sản xuất cụ thể. Để khát vọng trở thành động lực phát triển bền vững, cần sự đồng hành thực chất của các cấp, ngành và doanh nghiệp, giúp nông dân vừa làm ra nông sản chất lượng vừa chủ động hơn trong tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm và ổn định cuộc sống trên vùng đất biên cương.

Quang Minh

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/dot-thi-dua-dac-biet-500-ngay-dem/202610/nong-dan-vung-bien-voi-khat-vong-lam-giau-51044e7/