Nông lâm thủy sản xuất siêu gần 17 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026

9 tháng đầu năm 2026, nhóm nông lâm thủy sản ghi nhận xuất siêu ở mức 16,9 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản tháng 9/2026 đạt 10,7 tỷ USD, bao gồm 6,5 tỷ USD xuất khẩu, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 4,2 tỷ USD, tăng 3,4% YoY.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu nhóm nông lâm thủy sản đạt 95,7 tỷ USD, trong đó trị giá xuất khẩu ở mức 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% YoY; nhập khẩu đạt 39,4 tỷ USD, tăng 8% YoY; xuất siêu 16,9 tỷ USD, tăng 7,4% YoY.

Nhập khẩu tăng ở nhóm nông lâm sản

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, trị giá nhập khẩu nhóm nông sản đạt 24,96 tỷ USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm chăn nuôi đạt 4 tỷ USD, tăng 21,4% YoY.

Kim ngạch nhập khẩu thủy sản đạt 2,4 tỷ USD, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; lâm sản đạt 2,81 tỷ USD, tăng 17% YoY; đầu vào sản xuất đạt 5,16 tỷ USD, giảm 12,8% YoY; muối đạt 30,2 triệu USD, tăng 19,9% YoY.

Xét theo thị trường, Trung Quốc, Mỹ và Campuchia là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng nông lâm thủy sản chính lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 12,4%, 11,6%, và 9,4%.

So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá nhập khẩu nông lâm thủy sản từ Trung Quốc tăng 11,2%, Mỹ tăng 21,2% và Campuchia tăng 5,9%.

Xuất khẩu cà phê, gạo tiếp tục giảm

9 tháng đầu năm, trị giá xuất khẩu nhóm nông sản của Việt Nam đạt 29,2 tỷ USD, tăng 3,1% YoY; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3% YoY; lâm sản đạt gần 14,41 tỷ USD, tăng 7,6% YoY.

Kim ngạch xuất khẩu đầu vào sản xuất ở mức 2,86 tỷ USD, tăng 58,2% YoY; sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%; muối đạt 11,3 triệu USD, tăng 35,1% YoY.

Xét theo thị trường, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất với thị phần 24,4%, Mỹ với thị phần 19,8% và Nhật Bản với thị phần 7,4%. So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá xuất khẩu nhóm này sang các thị trường tăng lần lượt 18,9%, 1,2% và 4,9%.

Về các mặt hàng chính, gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục dẫn đầu nhóm này với trị giá 13,4 tỷ USD, tăng 7,3% YoY; thủy sản với kim ngạch 9,1 tỷ USD, tăng 12,3% YoY.

Rau quả là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ ba với 7,3 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.

Các mặt hàng trong nhóm ghi nhận tăng trưởng còn bao gồm hạt điều tăng 2% YoY, đạt 3,8 tỷ USD; hạt tiêu tăng 10,2% YoY, ở mức 1,4 tỷ USD; chè tăng 0,4% YoY, đạt 167,9 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi trong kỳ cũng tăng 24,6% YoY, đạt 564 triệu USD. Trong đó, trị giá xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 156,8 triệu USD, tăng 67,6% YoY; xuất khẩu thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 170,9 triệu USD, tăng 15,4% YoY.

Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu cà phê lại giảm 7,3% YoY, còn 6,5 tỷ USD; gạo giảm 10,9% YoY, đạt 3,1 tỷ USD; cao su giảm 4,4% YoY, xuống mức 2,18 tỷ USD; sắn và sản phẩm của sắn giảm 4,5% YoY, đạt 905 triệu USD.

Về giá các mặt hàng xuất khẩu, trong khi gạo, hạt tiêu và cà phê giảm thì các mặt hàng khác lại tăng cao.

Giá bình quân xuất khẩu sắn và sản phẩm từ sắn tăng 23,5% YoY, đạt 379,4 USD/tấn; cao su tăng 14,1% YoY, ở mức 2.016 USD/tấn; chè tăng 8,7% YoY, đạt 1.856 USD/tấn.

Giá xuất khẩu trung bình hạt điều cũng tăng 4,2% so với 9 tháng đầu năm 2025, lên mức 7.084 USD/tấn.

Trong khi đó, giá xuất khẩu bình quân cà phê giảm tới 19,7% YoY, đạt 4.537,3 USD/tấn; gạo giảm 5,1% YoY, đạt 484,8 USD/tấn; hạt tiêu giảm 4,1% YoY, còn 6.507 USD/tấn.

Lê Hồng Nhung

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/nong-lam-thuy-san-xuat-sieu-gan-17-ty-usd-trong-9-thang-dau-nam-2026-60341.html