Nông nghiệp hữu cơ: Gỡ điểm nghẽn từ sản xuất đến thị trường

Phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ dừng ở việc áp dụng quy trình canh tác và đạt chứng nhận, mà đòi hỏi chuyển đổi đồng bộ hệ thống sản xuất theo hướng sinh thái, bảo vệ tài nguyên và nâng cao năng lực tổ chức của nông dân.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu, gắn với yêu cầu bảo vệ sức khỏe con người, môi trường và nâng cao chất lượng tăng trưởng nông nghiệp. (Ảnh: ANH THƯ)

Phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu, gắn với yêu cầu bảo vệ sức khỏe con người, môi trường và nâng cao chất lượng tăng trưởng nông nghiệp. (Ảnh: ANH THƯ)

Phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ dừng ở việc áp dụng quy trình canh tác và đạt chứng nhận, mà đòi hỏi chuyển đổi đồng bộ hệ thống sản xuất theo hướng sinh thái, bảo vệ tài nguyên và nâng cao năng lực tổ chức của nông dân. Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi, hạn chế về kỹ thuật, tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng vẫn là những rào cản cần tháo gỡ để mở rộng thị trường.

Tổ chức sản xuất gắn với yêu cầu thị trường

Theo Tiến sĩ khoa học, Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA), phát triển nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu, gắn với yêu cầu bảo vệ sức khỏe con người, môi trường và nâng cao chất lượng tăng trưởng nông nghiệp.

Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cùng việc ban hành Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ và Quyết định 885/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030 đã tạo nền tảng quan trọng cho lĩnh vực này. Đặc biệt, Nghị quyết 85/NQ-CP ngày 4/4/2026 của Chính phủ về thực hiện Kết luận 219-KL/TW, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặt ra yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, hữu cơ, tuần hoàn gắn với giá trị gia tăng và đời sống người dân.

Tiễn sĩ khoa học Hà Phúc Mịch nhấn mạnh, mục tiêu phát triển nông nghiệp hữu cơ cần hướng tới nền sản xuất có giá trị gia tăng cao, bền vững, thân thiện với môi trường sinh thái, gắn với kinh tế tuần hoàn; sản phẩm được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn của thị trường. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần có chiến lược đồng bộ từ thể chế, khoa học công nghệ đến tổ chức sản xuất và thương mại.

Thực tiễn từ doanh nghiệp cho thấy, phát triển vùng nguyên liệu hữu cơ đòi hỏi quá trình liên kết, hướng dẫn và kiểm soát sản xuất lâu dài, thay vì chỉ tập trung vào chứng nhận sản phẩm.

Bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Tổng Giám đốc Công ty DACE cho biết, từ vùng nguyên liệu nhỏ ban đầu tại Cao Bằng, doanh nghiệp đã phát triển hơn 2.300ha có chứng nhận hữu cơ, liên kết với hơn 3.000 hộ nông dân. Khoảng 90% số hộ trong chuỗi được tập huấn hằng năm.

Sản phẩm của doanh nghiệp hiện có mặt tại bốn châu lục, tập trung vào thị trường châu Âu và Mỹ, trong đó châu Âu chiếm khoảng 65% sản lượng xuất khẩu. Để đáp ứng yêu cầu của từng thị trường, doanh nghiệp tiếp cận các chứng nhận hữu cơ phù hợp, đồng thời đáp ứng những tiêu chuẩn bổ sung như thương mại công bằng, Naturland và Bio Suisse.

Theo bà Nguyễn Hằng Nga, các nhà mua hàng quốc tế không chỉ quan tâm đến chứng nhận mà còn đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng, năng lực giao hàng, nguồn gốc minh bạch và sự ổn định giữa các lô hàng. Một số khách hàng còn áp dụng những tiêu chuẩn riêng cao hơn yêu cầu cơ bản của thị trường.

Vì vậy, chứng nhận vùng trồng phải đi đôi với kiểm soát chất lượng trong toàn bộ quá trình thu hoạch, vận chuyển, sấy, chế biến và đóng gói. Nguy cơ ô nhiễm chéo có thể phát sinh ở bất kỳ công đoạn nào, ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của sản phẩm.

Thực tế tại DACE cho thấy, một lô hàng có thể phải trải qua ít nhất ba lần kiểm nghiệm: tại vùng nguyên liệu, sau sản xuất ở nhà máy và theo yêu cầu của khách hàng hoặc phòng thử nghiệm do khách hàng lựa chọn. Điều này cho thấy, muốn tham gia sâu vào thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống kiểm soát chất lượng xuyên suốt, từ vùng sản xuất đến thành phẩm.

Tháo gỡ điểm nghẽn về tiêu chuẩn và kiểm soát chất lượng

Cùng với tổ chức sản xuất và liên kết thị trường, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn là một trong những điều kiện quyết định khả năng phát triển của nông nghiệp hữu cơ.

Bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tiêu chuẩn Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam cho rằng, hệ thống chính sách, tiêu chuẩn đã từng bước hình thành, nhưng năng lực sản xuất, chế biến, truy xuất nguồn gốc và phát triển thị trường còn hạn chế. Chi phí chứng nhận và rủi ro trong quá trình chuyển đổi vẫn là rào cản đối với nhiều chủ thể.

“Làm nông nghiệp hữu cơ là phải làm theo tiêu chuẩn”, bà Từ Thị Tuyết Nhung nhấn mạnh. Theo đó, trước khi triển khai sản xuất, người nông dân cần xác định sản phẩm và thị trường hướng tới, lựa chọn, đọc hiểu tiêu chuẩn; đồng thời rà soát điều kiện đất, nước, môi trường chung quanh, nguồn vật tư đầu vào, nguy cơ ô nhiễm chéo và khả năng phòng ngừa.

Ở góc độ rộng hơn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, cần đặt phát triển nông nghiệp hữu cơ trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp sinh thái và hệ thống lương thực, thực phẩm. Việc mở rộng quy mô không thể chỉ nhìn từ số lượng sản phẩm được chứng nhận, mà cần đánh giá cả những giá trị sinh thái, xã hội và khả năng tổ chức sản xuất, nhất là đối với các hộ nông dân nhỏ.

Theo ông Đào Thế Anh, cần khai thác lợi thế sinh thái của từng vùng, tránh áp dụng máy móc một mô hình chung. Điều kiện sản xuất ven đô khác miền núi; phương thức tổ chức ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng khác các vùng cao. Do đó, giải pháp phát triển phải phù hợp với hệ sinh thái, sinh kế, năng lực cộng đồng và nhu cầu thị trường của từng địa bàn.

Liên hệ với Kế hoạch hành động quốc gia chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thế Anh cho rằng, bên cạnh mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi, cần quan tâm đến môi trường chính sách, dịch vụ hỗ trợ và điều kiện để nông dân quy mô nhỏ có thể tham gia quá trình chuyển đổi.

Nông nghiệp sinh thái, hữu cơ có thể đóng góp đồng thời cho bảo đảm an ninh lương thực, dinh dưỡng, sinh kế, bảo vệ đất và nước, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải, kết nối người tiêu dùng, cải thiện cảnh quan và tạo việc làm xanh. Văn hóa ẩm thực bản địa, lịch sử vùng sản xuất, thương hiệu và du lịch trải nghiệm cũng là những nguồn giá trị cần được tính đến trong chiến lược phát triển.

Để nông nghiệp hữu cơ phát triển ổn định, bền vững, yêu cầu đặt ra không chỉ là hoàn thiện tiêu chuẩn hay mở rộng diện tích được chứng nhận, mà còn phải giải quyết đồng bộ những điểm nghẽn từ tổ chức sản xuất, năng lực của người nông dân đến kiểm soát chất lượng và phát triển thị trường. Chỉ khi hình thành được chuỗi liên kết minh bạch, bảo đảm lợi ích của người sản xuất và đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, nông nghiệp hữu cơ mới có thể nâng cao sức cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường.

THANH TRÀ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nong-nghiep-huu-co-go-diem-nghen-tu-san-xuat-den-thi-truong-post1000430.html