Nông nghiệp hữu cơ: Từ thay đổi tư duy đến nâng tầm giá trị nông sản Việt
Phát triển nông nghiệp hữu cơ được xác định là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường và xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam.
Tuy nhiên, để lĩnh vực này phát triển thực chất và bền vững, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về vật tư đầu vào, nguồn nhân lực, cơ chế chính sách và tổ chức sản xuất.
Nông nghiệp hữu cơ trong giai đoạn mới
Mới đây, tại buổi làm việc với Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, nông nghiệp hữu cơ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.
Trải qua chặng đường phát triển dài, từ mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực đến vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản quan trọng trên thế giới. Tuy nhiên, trong giai đoạn mới, ngành nông nghiệp không thể chỉ tập trung vào sản lượng mà phải hướng tới nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm, phương thức sản xuất, xây dựng thương hiệu, tăng trách nhiệm với môi trường và củng cố niềm tin của thị trường.

Hà Nội phát triển mạnh các mô hình nông nghiệp hữu cơ. Ảnh: PV
Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam Hà Phúc Mịch cho biết, năm 2025, diện tích sản nông nghiệp xuất hữu cơ đạt khoảng 174.000ha, chiếm 1,4% diện tích sản xuất nông nghiệp cả nước. Nếu so với năm 2016, tốc độ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ Việt Nam tăng 47%. Điều này có nghĩa, tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp hữu cơ cả nước bình quân đạt khoảng 5,2%/năm.
Hiệp hội đã ban hành Tiêu chuẩn cơ sở TCCS 01:2024/VOAA về quản lý hệ thống sản xuất nông nghiệp hữu cơ thay thế Tiêu chuẩn PGS Việt Nam trước đây. Tiêu chuẩn này đã được IFOAM Organics International công nhận là thành viên gia đình tiêu chuẩn của IFOAM từ tháng 5-2025, góp phần nâng cao khả năng hội nhập quốc tế của hệ thống tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam.

Toàn bộ quy trình sản xuất rau hữu cơ được kiểm soát nghiêm ngặt, từ đất, nước đến khâu chăm sóc và thu hoạch. Ảnh: PV
Tại Hà Nội, sau gần 5 năm thực hiện Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, Hà Nội đã có 192,046ha cây trồng được chứng nhận hữu cơ và 331,4ha đang trong quá trình chuyển đổi.
Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ ứng dụng công nghệ cao Cuối Quý (xã Đan Phương) Đặng Thị Cuối cho biết, hiện nay, trang trại Cuối Quý sở hữu 80 nhà màng hiện đại, canh tác hơn 30 loại rau, củ, quả theo tiêu chuẩn hữu cơ. Mỗi nhà màng sản xuất trên 10 lứa cây trồng mỗi năm, cung cấp nguồn nông sản chất lượng cao cho thị trường.
Toàn bộ quy trình sản xuất được kiểm soát nghiêm ngặt, từ đất, nước đến khâu chăm sóc và thu hoạch. Các sản phẩm đều được kiểm định định kỳ, bảo đảm các chỉ tiêu về hóa chất và vi sinh vật gây hại luôn nằm dưới ngưỡng cho phép, đáp ứng yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hữu cơ an toàn và bền vững. Ngoài ra, hợp tác xã đã chuyển giao công nghệ sản xuất rau hữu cơ cho 27 nông trại tại khu vực miền Bắc, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.
Tháo gỡ điểm nghẽn để thúc đẩy phát triển
Bên cạnh những kết quả đạt được, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho rằng vẫn còn nhiều khó khăn cần sớm được tháo gỡ để lĩnh vực này phát triển tương xứng với tiềm năng. Vật tư đầu vào là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Mặc dù các chính sách hiện hành đã đề cập đến việc phát triển nguồn vật tư phục vụ sản xuất hữu cơ, song trên thực tế người sản xuất vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các loại phân bón, chất cải tạo đất, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, thức ăn chăn nuôi và giống cây trồng, vật nuôi đáp ứng yêu cầu sản xuất hữu cơ.

Để nông nghiệp hữu cơ phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, cần tiếp tục xây dựng các mô hình điểm, lựa chọn cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp. Ảnh: PV
Từ thực tế đó, Hiệp hội kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các đơn vị chuyên môn rà soát, hoàn thiện cơ chế quản lý, chứng nhận và công khai thông tin về vật tư đầu vào phục vụ sản xuất hữu cơ, nhất là trong bối cảnh nhu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn ngày càng tăng. Hiệp hội cũng đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức sơ kết, đánh giá việc thực hiện Nghị định số 109/2018/NĐ-CP và Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030. Đây được xem là cơ sở quan trọng để nhận diện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, từ đó điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn.

Nông nghiệp hữu cơ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Ảnh: PV
Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Phạm Văn Duy nhấn mạnh rằng, các tổ chức, cá nhân sản xuất hữu cơ không chỉ tiếp cận các chính sách riêng về nông nghiệp hữu cơ mà còn có thể tận dụng nhiều chính sách hỗ trợ khác trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ cao, chuyển đổi số, khuyến nông và phát triển nông thôn.
Trong bối cảnh phân cấp, phân quyền ngày càng mạnh mẽ, địa phương hoàn toàn có thể chủ động ban hành các cơ chế hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế. Đối với vấn đề tiêu chuẩn, lưu ý cần phân biệt rõ giữa sản xuất theo nguyên tắc hữu cơ và sản phẩm được chứng nhận hữu cơ. Trong giai đoạn chuyển đổi, các tổ chức và doanh nghiệp có thể từng bước xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, hướng tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
Từ góc độ khuyến nông, theo ông Lê Minh Lịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thời gian qua Trung tâm và Hiệp hội đã phối hợp triển khai nhiều mô hình sản xuất hữu cơ trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản.
Hiện, cả nước có khoảng 2.800 cán bộ khuyến nông cấp tỉnh và hơn 5.300 cán bộ khuyến nông cấp xã.
Thời gian tới, Trung tâm sẽ tập trung đào tạo, nâng cao năng lực cho hệ thống khuyến nông cơ sở, trong đó chú trọng các nội dung về kỹ thuật sản xuất hữu cơ, truy xuất nguồn gốc, tổ chức sản xuất và quy trình chứng nhận sản phẩm.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng, để nông nghiệp hữu cơ phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, cần tiếp tục xây dựng các mô hình điểm, lựa chọn cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp, đẩy mạnh đào tạo, truyền thông, khuyến nông và tăng cường liên kết thị trường. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để nông nghiệp hữu cơ không chỉ phát triển về quy mô mà còn thực sự trở thành động lực nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.











