Nông nghiệp miền núi Đà Nẵng: Tổ chức lại sản xuất, thích ứng sau thiên tai

Sau những đợt mưa lũ liên tiếp gây thiệt hại nặng cuối năm 2025, nông nghiệp miền núi Đà Nẵng đang đứng trước yêu cầu cấp bách về việc tái cấu trúc. Thay vì duy trì các mô hình sản xuất nhỏ lẻ, dàn trải vốn dễ bị tổn thương trước thiên tai, các địa phương miền núi cần tổ chức lại sản xuất, hướng đến các sinh kế bền vững và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Những mô hình kinh tế dưới tán rừng đang phát huy hiệu quả trong những năm gần đây vì phù hợp với điều kiện tự nhiên. Ảnh: HỒ QUÂN

Những mô hình kinh tế dưới tán rừng đang phát huy hiệu quả trong những năm gần đây vì phù hợp với điều kiện tự nhiên. Ảnh: HỒ QUÂN

Canh tác cây trồng… thuận thiên

Ở xã Hùng Sơn sinh kế từ rau hữu cơ đang được tổ chức theo hướng tập trung hơn so với giai đoạn trước. Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp sinh thái Rừng xanh rau sạch hiện liên kết sản xuất với hơn 20 hộ đồng bào Cơ Tu, canh tác trên khoảng 5ha đất nông nghiệp phân bố tại các khu dân cư sườn đồi. Quy mô không lớn, nhưng được đánh giá phù hợp với điều kiện đất dốc, khả năng thoát nước tự nhiên và nguồn lao động tại chỗ.

Chị Coor Thị Nghệ, Giám đốc HTX cho biết, sau các đợt mưa lớn gây xói lở những năm gần đây, HTX chủ động điều chỉnh phương thức sản xuất, hạn chế mở rộng diện tích ồ ạt, ưu tiên giữ mặt đất ổn định và tận dụng lớp phủ thực vật sẵn có.

"Rau được trồng luân canh, không sử dụng phân hóa học, phục vụ chủ yếu cho thị trường gần trong thành phố, giúp giảm chi phí vận chuyển và rủi ro trong mùa mưa bão. Mỗi hộ tham gia chỉ làm trong khả năng của mình, có thu nhập đều hằng tháng, không bất chấp vì sản lượng", chị Nghệ nói.

Chị Coor Thị Nghệ (bên trái) tận dụng đất nông nghiệp ở khu vực ít có nguy cơ sạt lở để trồng dược liệu. Ảnh: PHAN VINH

Chị Coor Thị Nghệ (bên trái) tận dụng đất nông nghiệp ở khu vực ít có nguy cơ sạt lở để trồng dược liệu. Ảnh: PHAN VINH

Tại xã Đông Giang, phát triển cây dược liệu cũng đang được tổ chức lại theo cách tương tự. Theo UBND xã, hàng chục hộ dân tại các thôn vùng cao, trong đó có gia đình anh Bh’nướch Ngan ở thôn A Duông, đã chuyển một phần diện tích nương rẫy sang trồng ba kích, đảng sâm và một số cây dược liệu bản địa. Diện tích mỗi hộ khoảng 0,5ha, nhưng được bố trí dưới tán rừng, bảo đảm độ che phủ và hạn chế tác động đến địa hình.

Gương mặt nhà nông

Anh Bh’nướch Ngan Thôn A Duông, xã Đông Giang"Trồng dược liệu dưới rừng, mình không phải đào xới nhiều, đất ít bị trôi khi mưa lớn. Trong điều kiện khí hậu ngày càng khắc nghiệt, thiên tai, sạt lở xảy ra thường xuyên thì những mô hình như thế này khiến bà con yên tâm canh tác"

Ở các xã Trà Linh, Trà Vân, Trà Tập, phát triển kinh tế đang được tính toán ứng phó an toàn với mưa lớn gây sạt lở. Hàng trăm hộ dân tham gia trồng sâm Ngọc Linh và các cây dược liệu dưới tán rừng, với diện tích phân bố rải rác theo từng nhóm hộ, tránh tập trung ở các sườn dốc lớn.

Chính quyền địa phương yêu cầu các vùng trồng phải bảo đảm điều kiện thoát nước, không mở đường cơ giới trong mùa mưa và giữ nguyên thảm thực vật xung quanh.

Thực tế cho thấy, những mô hình sinh kế gắn với rừng, có quy mô vừa phải và được kiểm soát đang phát huy hiệu quả kép, vừa tạo thu nhập ổn định cho người dân, đồng thời giảm nguy cơ tổn thương khi thiên tai xảy ra. Nhiều xã vùng cao lựa chọn mô hình sản xuất trồng trọt nương theo địa hình tự nhiên, đầu tư vừa phải, chậm, chắc và đặt yếu tố an toàn lên hàng đầu.

Dưới tán rừng tự nhiên, những vườn sâm Ngọc Linh sinh trưởng, phát triển tốt, góp phần đổi thay bộ mặt đời sống của người dân vùng cao. Ảnh: PHAN VINH

Dưới tán rừng tự nhiên, những vườn sâm Ngọc Linh sinh trưởng, phát triển tốt, góp phần đổi thay bộ mặt đời sống của người dân vùng cao. Ảnh: PHAN VINH

Tổ chức lại sản xuất

Sau các đợt mưa lũ lớn gây sạt lở nặng, kịch bản phát triển kinh tế cần điều chỉnh phù hợp. Thay vì chạy theo tăng trưởng ngắn hạn, các địa phương tập trung rà soát lại điều kiện tự nhiên, khoanh vùng rủi ro và lựa chọn những mô hình có khả năng duy trì lâu dài, ít tổn thương trước thiên tai.

Tại Đông Giang, với hơn 1.200ha đất sản xuất nông - lâm nghiệp, trong đó trên 70% là đất rừng, chính quyền xã xác định việc tổ chức lại sinh kế phải gắn chặt với bảo vệ rừng và an toàn mùa mưa. Các diện tích canh tác manh mún ven suối, sườn dốc được thu hẹp, thay bằng mô hình trồng dược liệu, cây bản địa và chăn nuôi dưới tán rừng theo nhóm hộ.

Đông Giang đang thúc đẩy triển khai các mô hình xen ghép vườn rừng. Trong ảnh là mô hình trồng dược liệu của anh Bh’nước Ngan ở thôn A Duông. Ảnh: PHAN VINH

Đông Giang đang thúc đẩy triển khai các mô hình xen ghép vườn rừng. Trong ảnh là mô hình trồng dược liệu của anh Bh’nước Ngan ở thôn A Duông. Ảnh: PHAN VINH

Ông Coor Le, Chủ tịch UBND xã Đông Giang cho biết: "Địa phương ưu tiên các mô hình có liên kết tiêu thụ ngay từ đầu, coi đây là điều kiện bắt buộc để giảm rủi ro cho người dân. Nếu vẫn để bà con làm ăn đơn lẻ thì rất khó bền. Xã chọn một số cây, con chủ lực, tổ chức lại sản xuất theo nhóm, có doanh nghiệp đồng hành, chính quyền theo sát từ kết nối đến giám sát".

Ở Trà Liên, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn trên 30%, thiên tai càng cho thấy sự rủi ro rất lớn từ các mô hình đầu tư dàn trải. Năm 2026, xã chủ trương chỉ giữ lại những mô hình phù hợp địa hình, có thị trường ổn định và khả năng chuẩn hóa sản phẩm.

Các địa phương vùng cao khuyến khích người dân tận dụng tài nguyên bản địa để sản xuất sản phẩm OCOP. Ảnh: PHAN VINH

Các địa phương vùng cao khuyến khích người dân tận dụng tài nguyên bản địa để sản xuất sản phẩm OCOP. Ảnh: PHAN VINH

Theo ông Nguyễn Hồng Vương, Chủ tịch UBND xã Trà Liên, các mô hình liên kết sản xuất và sản phẩm OCOP được xem là "bệ đỡ" để người dân yên tâm đầu tư. "Điều người dân cần nhất là sinh kế ít rủi ro, có đầu ra rõ ràng. Vì vậy, xã rà soát lại toàn bộ mô hình, ưu tiên những mô hình có doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đồng hành", ông Vương cho biết.

Xã Hiệp Đức cũng đang cho thấy bước chuyển rõ trong cách tổ chức sản xuất. Với hơn 20% hộ nghèo, địa phương không đặt mục tiêu mở rộng nhanh, mà tập trung vào kinh tế vườn - rừng và phát triển sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị.

Ông Lưu Hoàng Ân, Chủ tịch UBND xã Hiệp Đức, cho rằng chính quyền cần đóng vai trò kết nối và tạo hành lang chính sách để doanh nghiệp vào cuộc.

"Sau thiên tai, nếu thiếu liên kết với doanh nghiệp thì người dân rất khó trụ vững. Địa phương tập trung chọn mô hình có thị trường, hỗ trợ kỹ thuật, thủ tục và tiếp cận vốn để người dân làm lâu dài", ông Ân nói.

Ghi nhận thêm ở một số xã miền núi, tư duy điều hành của lãnh đạo địa phương đã chuyển từ hỗ trợ manh mún sang dẫn dắt có định hướng, từ chạy theo số lượng mô hình sang chú trọng chất lượng. Vì thế, phát triển kinh tế nông nghiệp miền núi hiện nay đòi hỏi phải cơ cấu lại sản xuất, bắt nhịp thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Người dân vùng cao cần chính sách về vốn vay để mạnh dạn đầu tư phát triển mô hình. Ảnh: PHAN VINH

Người dân vùng cao cần chính sách về vốn vay để mạnh dạn đầu tư phát triển mô hình. Ảnh: PHAN VINH

Với các chủ thể sản xuất ở vùng cao, khó khăn lớn nhất nằm ở vốn và thị trường. Anh Bh’nướch Ngan, người trồng dược liệu ở thôn A Duông (xã Đông Giang) cho hay, người dân vùng cao không ngại lao động, nhưng rất dè dặt khi phải đầu tư dài hạn trong bối cảnh đầu ra thiếu ổn định.

“Nếu có doanh nghiệp cam kết bao tiêu, Nhà nước có chính sách hỗ trợ vốn đủ lâu, bà con mới dám làm bài bản, không còn tâm lý làm cầm chừng để né rủi ro,” anh Ngan nói.

Ở lĩnh vực nông sản hữu cơ, chị Coor Thị Nghệ, đại diện HTX Rừng xanh rau sạch (xã Hùng Sơn), nhìn nhận thiên tai càng làm rõ giá trị của các mô hình sản xuất an toàn, tuần hoàn, gắn với môi trường. Tuy nhiên, để những mô hình này mở rộng quy mô, vùng cao rất cần chính sách hỗ trợ hạ tầng sơ chế, kho bảo quản và xúc tiến thị trường.

Tiếng nói người trong cuộc

Chị Coor Thị Nghệ Giám đốc HTX Rừng xanh rau sạch"Nông nghiệp sạch chi phí cao, thời gian thu hồi vốn dài. Nếu thiếu sự đồng hành ổn định của Nhà nước, rất khó giữ người trẻ gắn bó lâu dài".

Từ góc độ quản lý, các địa phương đều chỉ ra khoảng trống chính sách sau thiên tai. Ông Coor Le, Chủ tịch UBND xã Đông Giang cho rằng, nguồn lực hiện nay không thiếu, nhưng còn phân tán, chưa đủ linh hoạt để địa phương chủ động lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia.

Với Hiệp Đức, trọng tâm được đặt vào việc thu hút doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Ông Lưu Hoàng Ân, Chủ tịch UBND xã Hiệp Đức khẳng định, khi doanh nghiệp đồng hành từ chế biến, tiêu thụ đến xây dựng sản phẩm OCOP, người dân mới thực sự yên tâm đầu tư.

VIDEO Kỳ vọng xoay chuyển kinh tế vùng cao

Nội dung: PHAN VINH

Trình bày: MINH TẠO

PHAN VINH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nong-nghiep-mien-nui-da-nang-to-chuc-lai-san-xuat-thich-ung-sau-thien-tai-3324471.html