Nông nghiệp phía Nam tìm cách gỡ điểm nghẽn từ nghiên cứu đến sản xuất
Vi phạm bản quyền giống cây trồng, công nghệ sau thu hoạch chưa đồng bộ, dữ liệu vùng trồng bị chia cắt cùng bài toán tiếp cận tín dụng mùa vụ là những nút thắt cốt lõi được nhận diện thẳng thắn tại Hội thảo chuyên đề lĩnh vực Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (thuộc khuôn khổ Hội nghị phát triển KH&CN, ĐMST và CĐS thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp khu vực phía Nam) diễn ra ngày 2/11/2026 tại TP. Cần Thơ.

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh minh họa.
Phiên hội thảo do Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Dương Đức Huy và Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Văn Long đồng chủ trì, thu hút hơn 150 đại biểu đại diện cho các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp.
Phát biểu khai mạc, Cục trưởng Dương Đức Huy nhấn mạnh vùng nông nghiệp phía Nam giữ vị trí trọng yếu của cả nước với hơn 900.000 ha cây ăn quả, vùng lúa gạo xuất khẩu chủ lực ĐBSCL và vùng cà phê Tây Nguyên. Tuy nhiên, toàn ngành đang đối mặt với áp lực lớn về chi phí sản xuất, rủi ro tồn dư hóa chất, các tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường quốc tế như SPS, EUDR và tình trạng dữ liệu chuyển đổi số bị phân mảng.
Thực trạng này phản ánh rõ nét qua các tham luận khi khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra sản xuất thực tiễn còn rất lớn. Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng phản ánh dù công nghệ gieo trồng phát triển mạnh, các khâu sơ chế, bảo quản lạnh, chế biến sâu và logistics của tỉnh còn nhiều hạn chế, đơn cử như cà phê xuất khẩu nhân thô chiếm trên 98%.
Trong khi đó, Viện Cây ăn quả Miền Nam (SOFRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) chỉ ra rằng thời gian chọn tạo một giống cây ăn quả hay cà phê mới đòi hỏi chu kỳ dài từ 10- 20 năm, đi kèm nguồn kinh phí lớn và hạ tầng nghiên cứu đã xuống cấp. Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ, sao chép và nhân giống thương mại trái phép diễn ra tràn lan khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn nghiên cứu. Điển hình như Tập đoàn Lộc Trời dẫn chứng số liệu của Bộ Công an cho thấy có tới 76% sản phẩm khoa học công nghệ nông nghiệp (341/451 sản phẩm) vẫn nằm trong phòng thí nghiệm, chưa thể thương mại hóa.
Bên cạnh bài toán giống, áp lực từ rào cản kỹ thuật quốc tế và vật tư đầu vào đang đè nặng lên các chuỗi ngành hàng. Viện SOFRI cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng Cadimi trên sầu riêng có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho xuất khẩu, đòi hỏi sớm bố trí nguồn lực nghiên cứu và xây dựng quy trình canh tác tổng thể. Tại Đồng Tháp, ngành nông nghiệp đối mặt với điểm yếu về công nghệ sau thu hoạch và thiếu hụt các sản phẩm thuốc sinh học bảo quản nông sản. Đồng thời, sự bất cập trong liên thông hành chính cũng lộ rõ khi Cổng Dịch vụ công nông nghiệp chưa kết nối trực tiếp với Cổng Truy xuất nguồn gốc quốc gia, buộc người dân và doanh nghiệp phải nhập liệu thủ công nhiều lần.
Nhằm giải quyết bài toán dữ liệu phân mảnh và kiểm soát chất lượng, nhiều giải pháp công nghệ tiên tiến đã được giới thiệu. Công ty Hạt Giống Vàng (DTALS) đề xuất hạ tầng định vị trạm RTK/CORS kết hợp định danh số TrustID trên nền tảng Blockchain để minh bạch hóa chuỗi lúa gạo, ngăn chặn tình trạng trộn lúa ngoài vùng nguyên liệu. RYNAN Technologies giới thiệu hệ sinh thái số hóa với các trạm bẫy đèn thông minh di trú ứng dụng AI để dự báo dịch hại và trạm quan trắc mặn tự động. Các đại biểu cũng kiến nghị đẩy mạnh tích hợp cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thí điểm xác thực nông hộ qua ứng dụng VNeID của Bộ Công an và dán tem xác thực điện tử chống vật tư giả.
Một điểm sáng tại hội thảo là cam kết chủ động từ phía doanh nghiệp. Tập đoàn Lộc Trời đã đăng ký tổ chức vùng sản xuất 100.000 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, huy động đồng bộ hệ thống nghiên cứu, nhà máy giống và chế biến. Doanh nghiệp kiến nghị thiết lập cơ chế điều phối cấp xã và khơi thông nguồn vốn tín dụng quay vòng theo chuỗi hợp đồng liên kết. Đại diện Agribank cho biết sẵn sàng xem xét cơ chế tín dụng ưu đãi này khi dữ liệu canh tác của nông hộ được số hóa và xác thực đầy đủ.
Kết luận phiên hội thảo, Cục trưởng Dương Đức Huy ghi nhận các ý kiến đóng góp sâu sắc và đề ra 05 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để triển khai ngay: Đổi mới cơ chế đặt hàng nghiên cứu, chuyển từ giao đề tài đơn lẻ sang đặt hàng gắn với địa chỉ ứng dụng thương mại và phối hợp lực lượng chức năng xử lý nghiêm tình trạng giống giả, vi phạm bản quyền; Hoàn thiện quy trình kỹ thuật, nhân rộng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao quy trình xử lý đất nhiễm Cadimi trên sầu riêng và chuẩn hóa canh tác phát thải thấp đáp ứng chuẩn EUDR, Trung Quốc, Mỹ; Phát triển hạ tầng chuyển đổi số, nhân rộng mô hình bẫy đèn AI, cảm biến IoT, đồng thời kết nối thông suốt Cổng thủ tục hành chính với Cổng Truy xuất nguồn gốc quốc gia để chấm dứt nhập liệu trùng lặp; Triển khai vùng lúa 100.000 ha phát thải thấp, thành lập Ban chỉ đạo cấp xã tại các địa phương trọng điểm (An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Cà Mau), áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ (AWD) và đo đếm phát thải (MRV); Đồng bộ thể chế và tài chính mùa vụ, phối hợp với Cục C06 (Bộ Công an) thí điểm xác thực nông hộ qua VNeID, dán tem điện tử vật tư và phối hợp với hệ thống ngân hàng khơi thông tín dụng chuỗi liên kết.

