Nông nghiệp Việt trong kỷ nguyên xanh: Cơ hội lớn từ hạt gạo nhỏ
Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế nhưng cũng đặt ra bài toán lớn liên quan tới nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.
Hạt gạo phát thải thấp ‘chậm lớn’ vì thiếu vốn
Giữa năm 2025, 500 tấn gạo phát thải thấp thuộc đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao được xuất khẩu sang Nhật Bản dưới thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp”, với mức giá 820 đô la Mỹ/tấn - cao hơn 2 lần so với giá gạo 5% tấm của Việt Nam tại thời điểm đó.

Các nông hộ thực hành canh tác lúa giảm phát thải mong ngóng được kiểm kê khí thải. Ảnh minh họa: H.A
Tương tự, mô hình nuôi trồng xen canh lúa–tôm theo định hướng IPSM (Integrated Plant Soil Management – Quản lý tổng hợp thổ mộc) tại bán đảo Cà Mau do kỹ sư Hồ Quang Cua và các cộng sự thực hiện, cũng giúp năng suất bình quân của sản phẩm gạo ST24, ST25 đạt khoảng 6 tấn/hecta, cao hơn 1,5–2 tấn so với giống cũ.
Với giá bán bình quân khoảng 9.200 đồng/kg, doanh thu bình quân từ hai sản phẩm gạo ST24 và ST25 ở mức 55,2 triệu đồng/hecta. Còn lợi nhuận thu về cao hơn 2 lần so với mô hình lúa truyền thống, tức tăng thêm gần 1.800 tỉ đồng/năm.
Đây là hai trong số nhiều minh chính tích cực về giá trị mà hạt gạo phát thải thấp mang lại cho người nông dân và ngành lúa gạo Việt Nam.
Rộng hơn, việc chuyên canh lúa phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong hơn 2 năm qua giúp giảm 40% tổng chi phí đầu vào, giảm lượng phát thải 3-4 tấn CO2/hecta/vụ và tăng 12% năng suất lúa so với canh tác truyền thống. Kết quả là lợi nhuận trung bình tăng 6 triệu đồng/hecta/vụ, theo thông tin mới đây từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT).
Tuy nhiên, những ‘nút thắt’ về tín dụng và thiếu liên kết cũng tạo những ‘rào cản’ đáng kể với gạo phát thải thấp Việt Nam.
Tại một hội thảo về hỗ trợ tiếp cận tài chính cho đề án 1 triệu hecta lúa chất lượng cao, ông Trương Hữu Trí, Giám đốc HTX nông nghiệp Gò Gòn (xã Vĩnh Thạnh, tỉnh Tây Ninh) cho biết chưa từng tiếp cận được vốn tín dụng ngân hàng trong 20 năm phụ trách HTX. Một trong những nguyên nhân là hầu hết thành viên HTX đã thế chấp sổ đỏ tại ngân hàng, nên không thể đứng ra ký bảo lãnh để HTX vay vốn. Hơn nữa, khả năng thu hồi vốn sau quá trình đầu tư cơ giới hóa nông nghiệp cũng không cao, nhất là với những HTX có diện tích nhỏ lẻ.
Bên cạnh những yếu tố trên, một số đơn vị cũng phản ánh những rủi ro như thời tiết, khí hậu, cùng hạn chế về trình độ kế toán và quản lý tài chính của nhóm nông hộ, hợp tác xã cũng khiến các ngân hàng thiếu công cụ đánh giá tín dụng để cấp vốn.
Không chỉ khó khăn tiếp cận vốn tín dụng thông thường, đơn vị canh tác lúa phát thải thấp cũng khó huy động vốn xanh trong bối cảnh thiếu hụt công cụ, đội ngũ chuyên gia cũng như các tiêu chí chuẩn hóa về kiểm kê, đo đạc phát thải khí nhà kính.
Chẳng hạn, mô hình lúa – tôm tại bán đảo Cà Mau đã thực hiện đúng các tiêu chí giảm phát thải canh tác lúa của Bộ NN&MT, nhưng vẫn chưa đo đếm được con số giảm phát thải thực sự là bao nhiêu. Do đó, ông Hồ Quang Cua từng nhiều lần bày tỏ mong muôn mô hình của mình được kiểm đếm để người dân thực sự hưởng lợi từ thành quả giảm phát thải.
Mở ‘cánh cửa’ tương lai cho gạo phát thải thấp
Để các đơn vị và người nông dân đầu tư dài hạn vào hạt gạo phát thải thấp, nhiều chuyên gia và đại diện doanh nghiệp cho rằng cần một khung chính sách hỗ trợ đồng bộ, gồm tín dụng xanh, bảo hiểm nông nghiệp, vận hành hiệu quả thị trường carbon, cũng như phát triển hạ tầng đo đếm, giám sát và kiểm chứng phát thải.
Trong ngắn hạn, ông Trương Hữu Trí cho rằng cần phải có giải pháp liên kết các HTX để gia tăng nguồn lực đầu tư. Sau đó phân bổ lại cho từng HTX để làm dịch vụ riêng lẻ, phục vụ cho toàn bộ diện tích đã liên kết.
Chẳng hạn, xã Vĩnh Thanh có 8 HTX hoạt động trong lĩnh vực lúa gạo, với tổng diện tích 12.000 hecta. Nếu được liên kết lại, liên minh HTX này sẽ đủ năng lực đứng ra vay và hoàn trả vốn cho ngân hàng để đầu tư máy móc.

Sự liên kết giữa các hợp tác xã được kỳ vọng góp phần giải bài toán vốn cho lúa phát thải thấp. Ảnh minh họa: H.A
Bên cạnh giải pháp liên kết các HTX, việc phát triển mô hình tín dụng chuỗi giá trị cũng được các chuyên gia nhắc tới. Cụ thể, ngân hàng có thể cấp tín dụng cho toàn bộ chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân thay vì cho vay riêng lẻ từng hộ.
Ông Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (NHNN) cho rằng cần ban hành nghị định riêng về hình thành và cho vay theo chuỗi giá trị với nông sản chủ yếu của Việt Nam. Đồng thời, xây dựng khung pháp lý về hợp đồng kinh tế dân sự và bộ quy tắc ứng xử mẫu để có chế tài xử lý cụ thể với chủ thể tham gia trong chuỗi khi vi phạm hợp đồng cam kết.
Về dài hạn, khi thị trường carbon chính thức vận hành, nông dân và doanh nghiệp tham gia mô hình lúa phát thải thấp có thể tạo ra nguồn thu từ tín chỉ carbon, giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn của người sản xuất.
Nói về tín chỉ carbon, ông Trần Mạnh Báo, Chủ tịch ThaiBinh Seed cho rằng Nhật Bản - với nền nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống quản trị carbon tiên tiến và tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt - là đối tác chiến lược của Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất lúa gạo phát thải thấp.
Theo đó, hai bên có thể hợp tác sâu hơn trong chuyển giao công nghệ đo đếm và kiểm kê phát thải, nghiên cứu, chọn tạo giống phù hợp với mô hình canh tác ít phát thải, cũng như phát triển thị trường gạo carbon thấp. Đồng thời, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi giá trị sẽ là nền tảng để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam.











