Nông sản Việt nâng chuẩn để vươn xa
8 tháng năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 49,3 tỷ USD, tiếp tục cho thấy sức bật của ngành Nông nghiệp. Trong bối cảnh các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển xanh, nông sản Việt đang chuyển mạnh từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, chuẩn hóa sản xuất và xây dựng chuỗi giá trị, từng bước nâng vị thế trên thị trường quốc tế.
Từ lợi thế sản xuất đến gia tăng giá trị
Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Gia Long cho biết, 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 49,3 tỷ USD; nhập khẩu đạt 35,06 tỷ USD, xuất siêu 14,25 tỷ USD. Trong đó, nhóm hàng nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; lâm sản 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; thủy sản 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%.
Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh, khó lường, cạnh tranh thương mại gay gắt, các tiêu chuẩn xanh và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã nỗ lực duy trì đà tăng trưởng, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, các cân đối lớn và thúc đẩy phát triển bền vững.

Nông sản Việt đang chuyển mạnh từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, chuẩn hóa sản xuất và xây dựng chuỗi giá trị. Ảnh: PV
Những kết quả trên cho thấy nền tảng sản xuất và năng lực cung ứng nông sản của Việt Nam tiếp tục được duy trì. Tuy nhiên, cùng với mở rộng thị trường, yêu cầu đặt ra ngày càng rõ hơn là phải nâng giá trị sản phẩm thay vì chủ yếu dựa vào lợi thế về sản lượng và xuất khẩu nguyên liệu.
Tổng Giám đốc Tổng Công ty Rau quả, Nông sản Việt Nam (Vegetexco Vietnam) Lê Anh Dũng cho rằng, Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng thuận lợi. Đây là cơ sở để ngành Nông nghiệp tiếp tục phát triển, đồng thời tạo cơ hội thu hút doanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư, hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh.
Riêng lĩnh vực cây ăn quả, Việt Nam hiện có khoảng 1,2 triệu hecta, sản lượng khoảng 13 triệu tấn/năm. Các sản phẩm trái cây đã được xuất khẩu tới hơn 60 quốc gia, trong đó có những thị trường lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...
Việt Nam cũng nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, hạt điều, hồ tiêu và cà phê, với sản phẩm có mặt tại hơn 150 quốc gia. Đáng chú ý, nhóm rau củ đang có bước phát triển mạnh, với diện tích gieo trồng khoảng 1 triệu hecta, sản lượng khoảng 16 triệu tấn/năm.

Việt Nam cũng nằm trong nhóm quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, hạt điều, hồ tiêu và cà phê, với sản phẩm có mặt tại hơn 150 quốc gia. Ảnh: PV
Từ nền tảng đó, dư địa phát triển không chỉ nằm ở việc mở rộng diện tích hay sản lượng mà còn ở khả năng tổ chức lại sản xuất, ứng dụng công nghệ và phát triển các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao.
Thực tế, nhờ ứng dụng công nghệ cao, nông sản Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năng lực chế biến cũng từng bước được nâng lên, góp phần giúp Việt Nam có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm khu vực và toàn cầu.
Vượt rào cản xanh, xây dựng chuỗi giá trị bền vững
Theo ông Fukui Tomoaki, Giám đốc phụ trách ngành hàng Công ty TNHH AEON TOPVALU Việt Nam, lợi thế cạnh tranh của nông sản, thực phẩm Việt Nam đang chuyển dần từ sản lượng sang khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu ở cả thị trường trong nước và quốc tế.
Theo đó, các nhà cung ứng cần chủ động chuẩn hóa quy trình theo những chứng nhận quốc tế độc lập như GlobalGAP, USDA Organic, EU Organic, ASC...
Để đạt được các chứng nhận này, từng mắt xích từ quy hoạch sản xuất, thu hoạch, chế biến đến thương mại cần được kết nối và kiểm soát chặt chẽ. Đây cũng là yêu cầu ngày càng rõ tại các thị trường nhập khẩu lớn. Các doanh nghiệp không chỉ phải bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm mà còn phải chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, trách nhiệm môi trường và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Các doanh nghiệp không chỉ phải bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm mà còn phải chứng minh nguồn gốc nguyên liệu. Ảnh: PV
Đáng chú ý, những quy định liên quan đến chống phá rừng, giảm phát thải và các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị đang tác động ngày càng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu. Vì vậy, truy xuất nguồn gốc, số hóa vùng trồng và quản lý dữ liệu sản xuất không còn chỉ phục vụ quản lý nội bộ mà trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Cùng với tiêu chuẩn, liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân là yếu tố quan trọng để hình thành vùng nguyên liệu ổn định. Thay vì sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, việc tổ chức vùng nguyên liệu theo chuỗi giúp doanh nghiệp chủ động nguồn cung, đồng thời tạo điều kiện để nông dân tiếp cận quy trình canh tác tiên tiến như GlobalGAP, sản xuất hữu cơ và quản lý sinh học. Thông qua liên kết, doanh nghiệp có thể chuyển giao kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, bao tiêu sản phẩm và cùng người sản xuất xây dựng thương hiệu.
Với nông dân, việc tham gia chuỗi cũng tạo điều kiện nâng cao giá trị sản phẩm và ổn định đầu ra. Trong bối cảnh đó, chế biến sâu cần được xem là một hướng quan trọng để giảm phụ thuộc vào xuất khẩu sản phẩm thô, nâng thời gian bảo quản và mở rộng thị trường. Khi nguyên liệu được chuẩn hóa từ vùng sản xuất, kết hợp với công nghệ chế biến và hệ thống truy xuất minh bạch, giá trị của nông sản không chỉ được tạo ra ở khâu sản xuất mà còn được gia tăng trong toàn bộ chuỗi.

Nông sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi từ “bán sản phẩm” sang “bán giá trị”. Ảnh: PV
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, mục tiêu tăng trưởng GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cả năm 2026 được giữ ở mức 4%.
Theo kịch bản, quý III cần tăng khoảng 4,15%, 9 tháng tăng 4,05% và quý IV tăng khoảng 4,2%. Trong đó, nông nghiệp phấn đấu tăng khoảng 3,77%, lâm nghiệp 5,23% và thủy sản 5,12%. Đối với xuất khẩu, mục tiêu cả năm là 74 tỷ USD. Như vậy, 4 tháng cuối năm ngành cần đạt khoảng 24,9 tỷ USD, tương đương bình quân 6,23 tỷ USD mỗi tháng.
Để thực hiện mục tiêu này, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ bám sát kịch bản tăng trưởng đến từng lĩnh vực, sản phẩm; thường xuyên cập nhật sản lượng, giá trị, thị trường và các yếu tố tác động để kịp thời điều chỉnh.
Cùng với đó là tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU; theo dõi sát từng thị trường, ngành hàng; tháo gỡ rào cản kỹ thuật; đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc.
Việc chủ động phòng, chống thiên tai, nhất là trước nguy cơ bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung, cũng được xác định là giải pháp quan trọng nhằm bảo vệ kết quả sản xuất.
Từ nền tảng sản xuất lớn, hệ thống thị trường ngày càng mở rộng đến yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn, nông sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi từ “bán sản phẩm” sang “bán giá trị”.
Chuẩn hóa vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết, ứng dụng công nghệ, đẩy mạnh chế biến sâu và minh bạch nguồn gốc sẽ là những yếu tố giúp nông sản Việt nâng cao giá trị, củng cố thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/nong-san-viet-nang-chuan-de-vuon-xa-1756942.html



