Nông sản xuất khẩu 7/9: Cà phê vẫn chịu áp lực, gạo 5% tấm ở 438-442 USD/tấn

Thị trường nông sản xuất khẩu bước vào tuần mới với diễn biến khá phân hóa. Cà phê phục hồi trong phiên cuối tuần nhưng vẫn chịu sức ép về giá, hồ tiêu giữ ổn định, trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục đứng ở vùng giá thấp so với Thái Lan.

Cà phê phục hồi phiên cuối tuần, giá xuất khẩu bình quân vẫn giảm mạnh

Sáng 7/9, thị trường cà phê thế giới chưa có phiên giao dịch mới. Mức giá gần nhất là phiên đóng cửa ngày 4/9.

Thị trường nông sản xuất khẩu bước vào tuần mới với diễn biến khá phân hóa. Ảnh được tạo với sự hỗ trợ của AI.

Thị trường nông sản xuất khẩu bước vào tuần mới với diễn biến khá phân hóa. Ảnh được tạo với sự hỗ trợ của AI.

Trên sàn London, cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 chốt ở 3.430 USD/tấn, tăng 56 USD/tấn, tương đương 1,66% so với phiên trước. Kỳ hạn tháng 1/2027 đạt 3.415 USD/tấn, tăng 55 USD/tấn.

Tại New York, Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 chốt phiên 4/9 ở mức 295,60 cent/pound, tăng 0,25 cent/pound; hợp đồng tháng 9/2026 ở 324,25 cent/pound.

Nhịp hồi cuối tuần chưa làm thay đổi đáng kể sức ép đang bao phủ thị trường cà phê. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,3 triệu tấn cà phê, thu về 6 tỷ USD. Lượng xuất khẩu tăng 13,1% nhưng kim ngạch giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 4.538 USD/tấn, giảm 19,7%.

Đức, Italy và Nhật Bản tiếp tục là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn của Việt Nam. Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu chủ lực, Trung Quốc ghi nhận mức tăng giá trị cao nhất, tới 72,7% so với cùng kỳ.

Như vậy, bài toán của cà phê xuất khẩu hiện không nằm ở sản lượng. Khối lượng đưa ra thị trường nước ngoài vẫn tăng, nhưng mức giá bình quân thấp hơn đáng kể đã kéo kim ngạch đi xuống.

Hồ tiêu giữ giá, xuất khẩu 8 tháng đạt 1,24 tỷ USD

Thị trường hồ tiêu sáng 7/9 tương đối ổn định. Theo cập nhật của Báo Nông nghiệp và Môi trường, giá tiêu trong nước phổ biến 135.000-137.000 đồng/kg. Trên thị trường xuất khẩu, các nguồn tham khảo trong nước ghi nhận tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l quanh 5.990 USD/tấn, loại 550 g/l khoảng 6.050 USD/tấn và tiêu trắng khoảng 8.400 USD/tấn.

Riêng bảng giá của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam cập nhật đầu tháng 9 ghi nhận mức tham khảo khoảng 5.550 USD/tấn đối với tiêu đen 500 g/l và khoảng 8.700 USD/tấn đối với tiêu trắng. Chênh lệch giữa các bảng giá cho thấy báo giá thực tế có thể khác nhau tùy tiêu chuẩn hàng, thời điểm và điều kiện giao dịch.

Về xuất khẩu, 8 tháng năm 2026, Việt Nam ước xuất khẩu 190.100 tấn hồ tiêu, đạt 1,24 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng tăng 14,5% và giá trị tăng 9,6%. Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm 27,2% tổng kim ngạch, tiếp theo là Đức và Thái Lan.

So với cà phê và gạo, hồ tiêu đang có bức tranh thuận lợi hơn khi cả lượng và kim ngạch cùng tăng. Tuy nhiên, diễn biến giá chào bán giữa các nguồn vẫn cần được theo dõi sát trong những ngày đầu tuần.

Nông sản xuất khẩu 7/9/2026

Cập nhật cà phê, hồ tiêu, gạo và các chỉ tiêu xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam.

Chọn (+) để xem chi tiết từng nhóm dữ liệu; chọn (−) để thu gọn.

Cà phê: Giá sàn và xuất khẩu

Giá cà phê thế giới - phiên gần nhất ngày 4/9/2026

Xuất khẩu cà phê Việt Nam - 8 tháng năm 2026

Một số thị trường đáng chú ý

Lưu ý: Sáng 7/9 là đầu tuần, chưa có phiên quốc tế mới. Giá London và New York sử dụng mức đóng cửa gần nhất ngày 4/9/2026.

Hồ tiêu: Giá xuất khẩu và kim ngạch

Giá hồ tiêu Việt Nam tham khảo ngày 7/9/2026

Xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam - 8 tháng năm 2026

Các thị trường chính

Lưu ý: Giá chào hồ tiêu có thể chênh lệch theo nguồn, tiêu chuẩn hàng, độ dung trọng, thời điểm và điều kiện giao hàng.

Gạo: Giá xuất khẩu và thị trường

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam

So sánh giá gạo trắng 5% tấm trong khu vực

Xuất khẩu gạo Việt Nam - 8 tháng năm 2026

Cơ cấu một số thị trường xuất khẩu gạo

Điểm đáng chú ý: Gạo 5% tấm Việt Nam hiện thấp hơn giá Thái Lan nhưng vẫn cao hơn Pakistan và Ấn Độ.

Tổng quan 3 mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Trong ba mặt hàng, hồ tiêu có diễn biến tích cực hơn khi cả lượng và kim ngạch cùng tăng; cà phê tăng lượng nhưng chịu sức ép giảm giá; gạo tiếp tục cạnh tranh mạnh về giá.

Bảng giá nhanh để tra cứu

Nguồn tham khảo: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, sàn London - New York và các nguồn thị trường cập nhật đến ngày 7/9/2026.

Lưu ý: Giá xuất khẩu là mức tham khảo tại thời điểm tổng hợp; giá thực tế có thể thay đổi tùy chất lượng, tiêu chuẩn, điều kiện giao nhận và hợp đồng.

Gạo 5% tấm duy trì 438-442 USD/tấn

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam sáng 7/9 chưa ghi nhận biến động mới. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam được Báo Nông nghiệp và Môi trường dẫn lại, gạo trắng 5% tấm của Việt Nam dao động 438-442 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm ở 470-480 USD/tấn; gạo Jasmine đạt 534-538 USD/tấn.

So với các nguồn cung lớn trong khu vực, gạo trắng 5% tấm của Việt Nam hiện thấp hơn Thái Lan, nơi mặt hàng cùng loại được chào 453-457 USD/tấn. Tuy nhiên, giá gạo Việt Nam vẫn cao hơn Pakistan, ở 406-410 USD/tấn và Ấn Độ, khoảng 364-368 USD/tấn.

Dù giá chào bán đã ổn định hơn, xuất khẩu gạo năm nay vẫn chịu áp lực. Số liệu mới của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, trị giá 2,86 tỷ USD. Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 43,2%; Trung Quốc đứng thứ hai với 18,4% và Ghana chiếm khoảng 11%.

Một thống kê trước đó của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ước giá xuất khẩu gạo bình quân 8 tháng ở mức 481,5 USD/tấn, giảm 5,9% so với cùng kỳ. Riêng tháng 7, giá bình quân đạt 511 USD/tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, phiên mở đầu tuần mới chưa xuất hiện biến động lớn ở nhóm nông sản xuất khẩu chủ lực. Cà phê cần thêm các phiên giao dịch mới để xác nhận khả năng phục hồi sau đợt giảm vừa qua; hồ tiêu giữ được nền giá tương đối ổn định; còn gạo Việt Nam tiếp tục cạnh tranh trong vùng giá 438-442 USD/tấn đối với loại 5% tấm.

Trong bức tranh rộng hơn, xuất khẩu nông sản Việt Nam 8 tháng năm 2026 đạt khoảng 25,66 tỷ USD. Cà phê đạt 6 tỷ USD, gạo khoảng 2,86 tỷ USD và hồ tiêu 1,24 tỷ USD. Diễn biến giữa ba mặt hàng cho thấy yếu tố giá đang tác động rất khác nhau: cà phê tăng lượng nhưng giảm kim ngạch, gạo chịu áp lực cả về lượng và giá trị, trong khi hồ tiêu vẫn duy trì tăng trưởng.

Bạch Dương

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/nong-san-xuat-khau-7-9-ca-phe-van-chiu-ap-luc-gao-5-tam-o-438-442-usd-tan.html