NSND Vương Duy Biên: Văn hóa đi trước mở đường cho nhiều ngành kinh tế

Nhiều năm gần đây, công nghiệp văn hóa đang dần được nhìn nhận như một lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế và lan tỏa hình ảnh quốc gia.

Từ thực tiễn quản lý và hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam đã chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương về cơ hội, thách thức và những điều kiện để công nghiệp văn hóa phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam.

NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Nguồn thu lớn cho kinh tế

- Trong bối cảnh nền kinh tế đang tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới, nhiều tập đoàn và doanh nghiệp lớn đã chọn công nghiệp văn hóa như một hướng đi dài hạn. Theo ông, điều gì khiến lĩnh vực này trở thành lựa chọn chiến lược của doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay?

NSND Vương Duy Biên: Tôi cho rằng, nhiều doanh nghiệp đã nhìn thấy rõ thế mạnh rất lớn của văn hóa. Khi được phát triển theo hướng công nghiệp văn hóa lĩnh vực này có thể mang lại giá trị kinh tế rất đáng kể.

Chẳng hạn, có những dự án đầu tư quy mô lớn như chương trình "Ký ức Hội An" hay "Tinh hoa Bắc Bộ". Ở Phú Quốc cũng có những chương trình biểu diễn nghệ thuật được đầu tư với nguồn kinh phí rất lớn. Những khoản đầu tư này không hề nhỏ nhưng các doanh nghiệp nhìn thấy rõ lợi ích lâu dài.

Khi có một chương trình văn hóa hấp dẫn, đây không đơn thuần là một hoạt động biểu diễn. Một sản phẩm văn hóa đặc sắc có thể thu hút du khách đến với cả khu du lịch. Và khi du khách đến bên cạnh xem chương trình đó họ còn sử dụng rất nhiều dịch vụ khác như lưu trú, ăn uống, mua sắm, đi lại. Tất cả những dịch vụ đi kèm ấy tạo ra nguồn thu rất lớn. Đó chính là lợi thế đặc biệt của văn hóa.

Nếu nhìn ra thế giới sẽ thấy điều này rất rõ. Ví dụ như điện ảnh Hàn Quốc, một bộ phim khi được xuất khẩu ra nước ngoài đã mang lại doanh thu từ điện ảnh còn kéo theo rất nhiều ngành khác như thời trang, mỹ phẩm, du lịch.

Vì vậy, nếu nhìn ở góc độ chiến lược, đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho riêng lĩnh vực văn hóa. Văn hóa có thể đi trước, mở đường và kéo theo sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác. Chính điều đó tạo nên lợi thế rất lớn của công nghiệp văn hóa.

Cơ chế đột phá

- Thưa ông, việc mở rộng đầu tư vào công nghiệp văn hóa đòi hỏi những điều chỉnh gì về thể chế, cơ chế ưu đãi và khung pháp lý để bảo đảm vừa khuyến khích doanh nghiệp tham gia, vừa định hướng phát triển bền vững cho ngành?

NSND Vương Duy Biên: Tôi lấy ví dụ về lĩnh vực công nghiệp văn hóa của Việt Nam hiện nay, Chính phủ đã xác định danh mục gồm 10 lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên nguồn lực của chúng ta không thể dàn trải cho tất cả các lĩnh vực cùng lúc. Điều quan trọng là phải lựa chọn những lĩnh vực có lợi thế để ưu tiên đầu tư, tạo ra thành công trước. Khi một lĩnh vực thành công sẽ truyền cảm hứng, mở đường cho những lĩnh vực khác phát triển.

Chẳng hạn trong lĩnh vực thời trang, nếu chúng ta xây dựng được một xu hướng thời trang Việt Nam dựa trên nền tảng truyền thống, rồi phát triển thành các sản phẩm có thể ứng dụng rộng rãi trên thị trường may mặc thế giới thì đó sẽ là một bước tiến rất lớn. Nếu sản phẩm có mẫu mã đẹp, thiết kế hấp dẫn, giá cả hợp lý và xuất hiện đúng thị trường thì hoàn toàn có thể tạo ra dấu ấn.

Chúng ta có thể nghĩ đến việc xây dựng những sản phẩm mang dấu ấn Việt Nam có khả năng lan tỏa toàn cầu. Từ chiếc mũ, đôi giày, đôi dép, chiếc túi hay các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, may mặc… những lĩnh vực này là thế mạnh của người Việt. Vấn đề là chúng ta có dám nghĩ đến việc tạo ra những sản phẩm mà sau này cả thế giới có thể sử dụng hay không.

Thực tế cho thấy, hàng Việt Nam ngày càng chiếm được niềm tin của người tiêu dùng. Nhiều sản phẩm đã có chất lượng tốt, thậm chí cạnh tranh được với hàng hóa từ một số quốc gia khác. Tuy nhiên, để đạt được bước phát triển mạnh mẽ hơn thì cần có chiến lược đầu tư rõ ràng và sự tham gia mạnh mẽ của Nhà nước.

Ở nhiều quốc gia như Hàn Quốc, khi những doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa có ý tưởng tốt, Nhà nước sẵn sàng hỗ trợ đầu tư. Trong khi đó, ở Việt Nam cơ chế pháp lý hiện nay chủ yếu cho phép đầu tư vào khu vực công doanh nghiệp nhà nước. Khi đề xuất hỗ trợ cho khu vực tư nhân đôi khi lại nảy sinh những lo ngại không cần thiết. Trong bối cảnh xã hội ngày càng minh bạch, điều quan trọng là nếu một ý tưởng mang lại lợi ích cho đất nước thì cần có cơ chế để Nhà nước đồng hành hỗ trợ.

Điện ảnh là một ví dụ khác, chúng ta có dám đặt mục tiêu làm ra một bộ phim có thể tham gia tranh giải Oscar hay không? Nếu có mục tiêu đó thì phải có chiến lược đầu tư tương xứng. Nhà nước cần có chính sách phù hợp, đồng thời phải có cơ chế thu hút và sử dụng nhân tài, tạo điều kiện để những người làm nghề sẵn sàng dốc sức sáng tạo.

Trước đây từng có trường hợp Nhà nước đầu tư cho một hãng phim tư nhân sản xuất bộ phim “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”. Đây là lần hiếm hoi ngân sách nhà nước đầu tư cho một hãng phim tư nhân và kết quả đạt được rất thành công. Tuy nhiên sau đó doanh nghiệp không tiếp tục tham gia vì các thủ tục hành chính quá phức tạp. Việc thanh quyết toán kéo dài nhiều năm khiến họ gặp nhiều khó khăn.

Với những thủ tục như vậy rất khó để thực hiện những dự án lớn trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Ngoài ra, tư duy đầu tư cũng cần thay đổi. Ở Hàn Quốc khi đầu tư 100 tỷ đồng làm một bộ phim, họ sẵn sàng dành một khoản ngân sách tương đương hoặc ít nhất một phần đáng kể để làm truyền thông, quảng bá. Nhờ vậy bộ phim có thể tiếp cận công chúng và thị trường quốc tế.

Trong khi đó ở Việt Nam nếu đầu tư 100 tỷ đồng sản xuất phim thì kinh phí truyền thông đôi khi chỉ ở mức rất nhỏ. Với cách làm như vậy rất khó để sản phẩm văn hóa lan tỏa rộng rãi.

Vì vậy, điều quan trọng trước hết là phải cải cách thể chế và thủ tục hành chính. Cần thay đổi cách thức đầu tư, đặt hàng và định giá các tác phẩm văn hóa. Trước đây, một bộ phim 10 tỷ, 20 tỷ đã được coi là lớn. Trong khi đó nhiều doanh nghiệp tư nhân sẵn sàng đầu tư 50 tỷ, thậm chí 100 tỷ cho một dự án điện ảnh.

Nếu các thủ tục vẫn rườm rà và cách quản lý ngân sách vẫn theo tư duy cũ thì rất khó tạo ra những bước đột phá trong phát triển công nghiệp văn hóa.

NSND Vương Duy Biên trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương. Ảnh: Thái Mạnh

NSND Vương Duy Biên trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương. Ảnh: Thái Mạnh

Thúc đẩy công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột kinh tế mới

- Khi các tập đoàn lớn tham gia sâu vào công nghiệp văn hóa, liệu điều đó có gây sức ép đối với các doanh nghiệp nhỏ đang hoạt động trong lĩnh vực này, thưa ông?

NSND Vương Duy Biên: Ở đây vừa có sức ép vừa có cơ hội. Những doanh nghiệp có tiềm lực mạnh họ có thể đầu tư những dự án lớn, triển khai nhiều việc cùng lúc. Ngược lại, những đơn vị nhỏ hơn buộc phải tính toán rất kỹ, lựa chọn xem nên làm gì, quy mô ra sao và đi theo hướng nào cho phù hợp.

Tuy nhiên, trong khó khăn nhiều khi lại xuất hiện những ý tưởng sáng tạo. Điều quyết định nhiều khi nằm ở ý tưởng chứ không hoàn toàn nằm ở quy mô vốn đầu tư. Vì vậy, đây vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng là cơ hội để họ khẳng định mình. Nhiều start-up hiện nay bắt đầu từ quy mô rất nhỏ nhưng nhờ lựa chọn đúng hướng đi và có ý tưởng tốt họ vẫn có thể trưởng thành và phát triển mạnh mẽ.

Các doanh nghiệp nhỏ có thể không đi trên những con đường lớn mà các tập đoàn lớn đang cạnh tranh. Họ có thể tìm những con đường nhỏ hơn, những ngách thị trường riêng, từ đó tránh sự cạnh tranh trực diện và tạo ra cơ hội cho mình. Một nền kinh tế thị trường phải chấp nhận sự cạnh tranh như vậy và mỗi doanh nghiệp phải tự vươn lên bằng năng lực của mình.

Trong lĩnh vực điện ảnh cũng có thể thấy rất rõ điều này. Một bộ phim được đầu tư rất nhiều tiền chưa chắc đã đạt doanh thu cao hơn một bộ phim có kinh phí thấp hơn. Điều quan trọng là chất lượng của tác phẩm.

Một bộ phim hay cần hội tụ nhiều yếu tố như kịch bản tốt, đạo diễn giỏi, dàn diễn viên phù hợp và một ê-kíp sáng tạo chuyên nghiệp. Những yếu tố này không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào quy mô vốn đầu tư.

Vì vậy, chất lượng của sản phẩm văn hóa nhiều khi không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu. Điều quan trọng nằm ở tư duy, ở trí tuệ và ở sự lựa chọn đúng đắn của những người làm nghề.

- Với những định hướng của Đảng Nhà nước cũng như sự chủ động tham gia của các doanh nghiệp, các chủ thể sáng tạo, chúng ta có thể tin tưởng công nghiệp văn hóa có thể trở thành một trong những động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, thưa ông?

NSND Vương Duy Biên: Tôi rất tin tưởng vào triển vọng phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam. Ý chí và quyết tâm của Đảng và Nhà nước đã được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đại hội cũng như trong nhiều nghị quyết ban hành thời gian gần đây.

Bên cạnh đó, tiềm lực của đất nước hiện nay cũng đã mạnh hơn trước, trình độ dân trí được nâng cao, khả năng tiếp cận thông tin ngày càng rộng mở. Chúng ta có điều kiện học hỏi kinh nghiệm phát triển công nghiệp văn hóa của nhiều quốc gia, đồng thời có thể ứng dụng mạnh mẽ công nghệ vào sáng tạo và sản xuất các sản phẩm văn hóa... Những yếu tố đó tạo ra nền tảng quan trọng để Việt Nam thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên, điều cần quan tâm hiện nay là làm sao để các nghị quyết và định hướng lớn thực sự đi vào cuộc sống. Muốn vậy phải có những chính sách cụ thể, phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện để lĩnh vực văn hóa phát triển thuận lợi, tránh bị vướng mắc bởi các thủ tục hành chính hoặc những cơ chế đã không còn phù hợp.

Chúng ta cần mở đường cho văn hóa bằng tư duy quản lý mới, bằng chính sách mới và bằng nguồn lực đầu tư tương xứng. Khi những điều kiện đó được đáp ứng, cùng với vị thế quốc tế ngày càng rộng mở của Việt Nam hiện nay, tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể bước vào một giai đoạn phát triển mới của văn hóa Việt Nam nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng.

- Xin cảm ơn ông!

Việt Nam đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, 9% vào năm 2045, đồng thời chi tối thiểu 2% tổng ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa theo Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Nguyên Thảo (thực hiện)

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nsnd-vuong-duy-bien-van-hoa-di-truoc-mo-duong-cho-nhieu-nganh-kinh-ke-445962.html