Nữ công nhân môi trường: Khi 'gánh nặng kép' bào mòn sức khỏe
Công việc thu gom rác thải sinh hoạt vốn nặng nhọc, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe, nhưng với nữ công nhân môi trường, áp lực không chỉ đến từ những giờ làm việc ngoài đường. Sau ca làm, nhiều người tiếp tục trở về với trách nhiệm chăm sóc con cái, người cao tuổi và công việc gia đình. Điều này đang tạo nên một “gánh nặng kép”, khiến phụ nữ dễ rơi vào vòng xoáy khó khăn về sức khỏe, thời gian và kinh tế.
Đây là một trong những vấn đề được bác sĩ Trần Triêu Ngõa Huyến, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ sức khỏe cộng đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đưa ra tại Tọa đàm “Đưa dịch vụ y tế đến với nữ công nhân môi trường” do Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội phối hợp cùng Tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam (AFV) và Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO) tổ chức.
Những hạn chế trong tiếp cận dịch vụ y tế
Theo bác sĩ Trần Triêu Ngõa Huyến, bức tranh chung về khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của nữ công nhân môi trường có những tín hiệu tích cực. Các chương trình chăm sóc sức khỏe được triển khai tại đơn vị đã tạo điều kiện để công nhân tiếp cận nhiều dịch vụ hỗ trợ thiết yếu.
Một trong những điểm được ghi nhận là công tác an toàn lao động. Công nhân được tham gia tập huấn an toàn lao động bắt buộc hằng năm và được trang bị các thiết bị bảo hộ lao động. Về bảo hiểm, toàn bộ công nhân có bảo hiểm y tế, trong khi phần lớn có thêm bảo hiểm tai nạn để sử dụng khi khám, chữa bệnh.

Bác sĩ Trần Triêu Ngõa Huyến cho rằng, nữ công nhân môi trường đang phải đối mặt với “gánh nặng kép” về công việc và trách nhiệm chăm sóc gia đình. Ảnh: Khánh Huy
Công tác khám sức khỏe cũng được quan tâm với hai đợt khám định kỳ, gồm khám tổng quát và khám chuyên sâu về bệnh nghề nghiệp. Đơn vị có phòng y tế riêng để chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Bên cạnh đó, một số cơ sở vật chất, trang thiết bị như máy siêu âm được đầu tư; hệ thống xe đưa đón cũng được sử dụng để hỗ trợ công nhân trong những ngày nghỉ đối với những người không có điều kiện về quê. Công đoàn tại các nhà máy còn có những sáng kiến hỗ trợ như cung cấp thực phẩm sạch, các gói dinh dưỡng và sữa cho người lao động.
Tuy nhiên, việc có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản không đồng nghĩa mọi nhu cầu sức khỏe của nữ công nhân đã được đáp ứng đầy đủ.
Theo kết quả được chia sẻ, nữ công nhân vẫn có xu hướng ít đi khám, trừ khi xuất hiện những dấu hiệu sức khỏe rõ rệt. Các vấn đề được đề cập nhiều gồm cơ xương khớp, hô hấp và các dấu hiệu ngoài da. Đáng chú ý, dù phần lớn tự đánh giá sức khỏe thể chất ở mức tương đối tốt hoặc bình thường, nhiều công nhân cho rằng những vấn đề sức khỏe họ gặp phải là hệ quả của đặc thù công việc.
Điều này dẫn tới hai xu hướng song song. Một mặt, do nhận thức được tính chất rủi ro của công việc, công nhân có ý thức tuân thủ các quy định về bảo hộ lao động và tham gia đầy đủ các đợt khám sức khỏe. Mặt khác, một bộ phận lại có xu hướng “bình thường hóa” những nguy cơ nếu các triệu chứng mới chỉ ở mức nhẹ và chưa gây ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe.
Áp lực phía sau công việc
Nếu những rủi ro nghề nghiệp tác động trực tiếp đến sức khỏe thể chất thì đời sống phía sau công việc lại đặt nữ công nhân trước một dạng áp lực khác.
Theo bác sĩ Trần Triêu Ngõa Huyến, nhóm nữ công nhân trong nghiên cứu có độ tuổi trung bình 45,1 tuổi. Ở độ tuổi từ 35 trở lên, đặc biệt nhóm 45-56 tuổi, sức khỏe nói chung có sự suy giảm, trong đó các vấn đề liên quan đến cơ xương trở thành thách thức đáng kể đối với những người tiếp tục làm công việc nặng nhọc.

Tọa đàm “Đưa dịch vụ y tế đến với nữ công nhân môi trường” đề cập những khoảng trống trong chăm sóc sức khỏe của lao động nữ. Ảnh: Khánh Huy
Đáng chú ý hơn, phần lớn những nữ công nhân này không chỉ thực hiện công việc tạo thu nhập. Họ còn phải chăm sóc hoặc hỗ trợ người cao tuổi và trẻ em dưới 18 tuổi. Nói cách khác, nhiều người cùng lúc phải gánh trách nhiệm đối với hai thế hệ trong gia đình. Sau những giờ lao động nặng nhọc, họ tiếp tục thực hiện công việc gia đình.
“Gánh nặng kép” vì thế không chỉ là một cách gọi mang tính khái quát, mà được hình thành từ sự cộng dồn của nhiều áp lực: Công việc nặng nhọc, trách nhiệm chăm sóc gia đình và sức ép kinh tế. Theo chuyên gia y tế, đây là một gánh nặng mang tính hệ thống đang đặt lên nữ giới và khiến nữ công nhân dễ bị cuốn vào vòng xoáy khó khăn về sức khỏe.
Sức khỏe tinh thần cũng là một phần không thể bỏ qua. Nghiên cứu cho thấy hầu hết nữ công nhân từng trải qua stress ở những mức độ khác nhau, dù phần lớn vẫn kiểm soát được tình trạng này. Mức độ stress thể hiện rõ hơn ở nhóm công nhân di cư đến Hà Nội và những người mới bắt đầu công việc. Khi họ có thời gian sống tại Hà Nội lâu hơn và dần thích nghi với công việc, mức độ stress có xu hướng giảm.
Một vấn đề khác được đề cập là nguy cơ quấy rối tình dục. Theo chia sẻ tại Tọa đàm, tỷ lệ được công nhân đề cập ở mức khoảng 10%, song trong các câu chuyện được kể vẫn xuất hiện những dấu hiệu về các hành vi không mong muốn. Đáng lưu ý, nhu cầu tìm kiếm sự hỗ trợ trong những trường hợp này còn thấp.
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện
Một trong những điểm đáng chú ý từ nghiên cứu là khoảng cách giữa dịch vụ đang được cung cấp và nhu cầu thực tế của nữ công nhân.
Theo bác sĩ Trần Triêu Ngõa Huyến, hiện công nhân đang tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe ở mức cơ bản. Trong khi đó, nhu cầu của họ đã vượt ra ngoài việc khám, chữa bệnh thông thường. Nữ công nhân cần thêm kiến thức chăm sóc sức khỏe, các chương trình tầm soát chuyên sâu, kiến thức dành riêng cho phụ nữ, vaccine phòng bệnh và đặc biệt là các hình thức hỗ trợ về tinh thần.

Nữ công nhân môi trường đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khoẻ. Ảnh: URENCO
Bài toán này càng trở nên đáng chú ý khi đặt trong điều kiện kinh tế và thời gian của người lao động. Với mức thu nhập và chi phí sinh hoạt tại đô thị Hà Nội, khả năng tích lũy của công nhân bị hạn chế. Khi xảy ra một biến cố sức khỏe, khoản tích lũy ít ỏi có thể nhanh chóng bị sử dụng cho các chi phí phát sinh.
Nhìn từ câu chuyện của nữ công nhân môi trường, chăm sóc sức khỏe vì thế không chỉ dừng ở việc bảo đảm một thẻ bảo hiểm y tế, một lần khám định kỳ hay trang bị bảo hộ lao động. Đó còn là khả năng để người lao động có thời gian chăm sóc bản thân, được tiếp cận thông tin phù hợp, được phát hiện sớm các nguy cơ sức khỏe và có nơi tìm kiếm hỗ trợ khi gặp vấn đề về tinh thần hoặc những rủi ro trong môi trường làm việc.

